Mầu nhiệm Nhập Thể không phải là một câu chuyện huyền thoại. Chúng ta chỉ có thể nhìn nhận
bằng đức tin và con tim yêu mến. Đức tin giúp ta nhận ra quyền năng của Thiên Chúa. Ngài là
Đấng có thể làm được mọi sự. Trinh nữ Ma-ri-a thành Na-da-rét, khi nghe sứ thần nói mình sẽ
sinh hạ một con trai, cũng hết sức ngỡ ngàng. Trinh nữ đã hỏi sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách
nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Câu trả lời của sứ thần đã giải tỏa nỗi lo của Trinh
nữ: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không làm được”. Mầu nhiệm Nhập Thể có thể được
đón nhận bằng trái tim yêu mến, khi chúng ta nhận ra Thiên Chúa yêu thương con người, và
việc Ngôi Hai xuống thế làm người là bằng chứng hùng hồn cho tình thương bao la ấy. Một tác
giả đã viết, đại ý: Mầu nhiệm Nhập Thể là việc làm tốt nhất của Thiên Chúa, trong số những
việc Ngài có thể làm, để thể hiện tình yêu thương đối với con người. Đương nhiên, đó là cách
lập luận của con người, còn đối với Thiên Chúa, không bao giờ có khái niệm “có thể”.
Chuẩn bị tâm hồn để đón mừng lễ Giáng Sinh là quan trọng, nhưng chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn để
đón Chúa đến với mình trong ngày tận thế lại còn quan trọng hơn. Lời Chúa hôm nay sẽ giúp chúng ta
làm được điều này. Bởi vì hôm nay Thánh Matthêu nói cho chúng ta biết, ông Gioan Tẩy Giả đang ở
trong tù, ông thắc mắc không biết Chúa Giêsu có phải là Đấng Cứu Thế hay không! Ông Gioan cũng như
những người Do Thái hồi đó, họ rất mong chờ Đấng Cứu Thế đến. Đang ở trong tù, ông Gioan không đi
được nên đã sai môn đệ của ông đến hỏi Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu đã trả lời: Các anh hãy về kể lại cho
ông Gioan những gì các anh đã nghe ta nói và những gì các anh đã nhìn thấy ta làm, đó là Ta đã làm cho
người mù được nhìn thấy, người què chân đi được, người phong cùi được Ta chữa khỏi, người điếc nghe
được, người chết Ta làm cho sống lại. Những việc làm đó đã nói cho ông Gioan, cho người Do Thái và
cho cả chúng ta biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Là Đấng Cứu Thế mà tiên tri Isaia đã loan báo. Ngài
đến để thiết lập vương quốc của Ngài ở trần gian. Chúa đang ở đó với ông Gioan, với người Do Thái mà
họ không nhận ra. Chúa đến để chữa lành, để yêu thương, để ban niềm vui và sự bình an cho chúng ta.
Chúa đến một cách âm thầm và lặng lẽ. Chúa đang ở kề bên chúng ta mà nhiều khi chúng ta lại không
nhận ra Ngài.
Nghe lời tuyên bố của Đức Giê-su, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn
để làm môn đệ Đức Giê-su thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải từ bỏ tận căn, không những
của cải, người thân, mà cả những tiện nghi, kế hoạch riêng, sự quyến luyến, những giao tiếp hợp
pháp và thậm trí cả chính mạng sống mình nữa nữa (x. Lc 14). Chúa yêu cầu phải “bỏ” cha mẹ,
vợ con, anh em, chị em. Có người hỏi: Phải chăng, điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người
thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Đức Giê-su, người ta phải thay thế tình yêu
đối với người thân cận bằng sự từ bỏ đối với họ? Không phải thế, Đức Giê-su đòi hỏi người
môn đệ phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất.
Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Thiên Chúa là Đấng dựng nên cả cha
mẹ chúng ta, nên Đức Giê-su yêu cầu con người dành cho Thiên Chúa một vị trí đặc biệt và cao
nhất. Chúa Giê-su không cổ võ việc từ bỏ gia đình hay cắt đứt tình thân, mà Người đòi hỏi một
sự đảo chiều trong ưu tiên của ta: Phải đặt Thiên Chúa làm trung tâm, hơn cả những điều quý
nhất. Chúa không xem thường cha mẹ, vợ con, nhưng Chúa biết rằng: nếu ta yêu mến Người
hơn, thì ta sẽ yêu người thân một cách đúng đắn hơn, yêu với tình yêu vô điều kiện và không
chiếm hữu. Thánh Gio-an Kim Khẩu đã từng nói: “Đức Ki-tô không lấy đi khỏi chúng ta những
gì là quý giá, mà Người dạy chúng ta đặt mọi sự vào đúng trật tự: yêu Chúa trước hết, để mọi
tình yêu khác được thanh luyện”. Theo Chúa là từ bỏ điều quý để đạt được điều quý hơn. Như
người xây tháp hay vị vua sắp ra trận trong Tin Mừng hôm nay, ai cũng cần lượng giá, biết
người, biết mình. Tác giả sách Khôn Ngoan thốt lên: “Ai trong loài người có thể biết được ý
định của Thiên Chúa?” (Kn 9,13). Đúng vậy, nhiều lúc con người tưởng mình khôn ngoan,
thành công, sắp đặt được mọi sự, nhưng không biết rằng khôn ngoan đích thực là nhận ra điều
Chúa muốn nơi mình, và sống theo đó. Vì thế, trong Hiến chế Gaudium et Spes, Công đồng
Vaticanô II đã viết: “Con người chỉ thực sự là chính mình khi hiến dâng trọn vẹn cho Thiên
Chúa” (GS 24). Lời Chúa hôm nay mời gọi ta xét lại: Tôi có đang chọn Chúa là nhất chưa? Tôi
có sẵn sàng từ bỏ một chút tiện nghi, một chút thời gian, một chút tự ái... để sống theo thánh ý
Chúa không?
“Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11). Chúa Giêsu
rất ưa thích sự khiêm nhường mà còn làm gương trước cho mọi người. Là một vị Thiên Chúa
quyền năng, nhưng Người đã hạ mình làm kiếp phàm nhân. Là bậc thầy trong thiên hạ, lại quì
xuống rửa chân cho các đệ tử. Chỗ của Người là “chỗ nhất” trên trời cao, nhưng lại chọn “chỗ
cuối” dưới chân con người. Chúa Giêsu tự hạ mình xuống như thế: không phải là để được tôn
lên, vì dưới vòm trời này ngôi báu nào có thể chứa được Người. Người khiêm nhường đến tự
huỷ như thế, cũng là để phục vụ con người đến hết mình, và để yêu thương họ cho đến cùng. Vì
thế, khiêm nhường để gây chú ý, để được tiếng khen, để được tôn lên, mà không nhằm phục vụ,
yêu thương thì chỉ là kiêu ngạo trá hình mà thôi. Có thể nói, khiêm nhường như Chúa dạy, chính
là “tự nhận mình là không và Chúa là tất cả”, nên chỉ cậy dựa vào Chúa mà hy sinh, mà phục
vụ và yêu thương mọi người. Chỉ có những ai hạ mình xuống như thế mới đáng được Chúa tôn
lên. Thánh Giuse đã khiêm nhường phục vụ, yêu thương Đức Mẹ và Đức Giêsu tại quê nghèo
Nadarét, nên đã được tôn làm cha nuôi Chúa Cứu Thế. Đức Maria đã khiêm nhường nhận mình
là nữ tì của Thiên Chúa, để suốt đời phục vụ chăm lo cho Con Chúa Trời, nên đã được tôn làm
Mẹ Thiên Chúa. Noi gương Chúa biết bao con người đang âm thầm xả thân cho đồng loại, họ
khiêm nhường làm những công việc dơ dáy hôi tanh, để chăm sóc cho những người phong cùi
lở loét, những bệnh nhân nan y bất trị, những người hấp hối nhặt được từ đường phố, những trẻ
em nghèo đói, thương tật trong các nước chiến tranh, lạc hậu. Chính khí yêu thương vô vị lợi,
chính khi chúng ta “đãi tiệc những kẻ nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, những kẻ không có
khả năng mời lại”, thì chúng ta “mới thật có phúc”, vì chính Thiên Chúa sẽ trả công cho chúng
ta. Người không có ý phân biệt giàu nghèo, thân sơ, vì trước mắt Thiên Chúa, chúng ta là anh
em. Nhưng Người muốn lưu ý chúng ta rằng: dù người được mời giàu hay nghèo, thân hay
không thân, chúng ta cũng đừng mong họ đáp trả lại theo kiểu “ăn miếng trả miếng”. Đó là lòng
bác ái vô vị lợi mà Chúa muốn dạy chúng ta hôm nay. Có thể chúng ta thực thi việc bác ái cho
anh em chỉ vì vụ lợi, vì khoe khoang, vì muốn hơn người, vì trách nhiệm hay vì phần thưởng.
Nhưng sự trao ban đích thực chính là trao ban vì yêu thương. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa
yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một Người” (Ga 3,16). Chỉ những ai trao ban vô
vị lợi, trao ban vì yêu thương, trao ban chính bản thân mới trở nên giống Thiên Chúa.
Đức Kitô đến để ban bình an hay để chia rẽ? Cứ nhìn vào cục diện của Giáo Hội, vào bộ mặt
của thế giới ngày nay, thì khách quan mà nói: Đức Kitô đúng là đã gây chia rẽ. Ngài chia rẽ
những kẻ tin và không tin. Rồi ngay giữa những kẻ tin thì cũng còn có chuyện Công giáo, Chính
Thống, Tin Lành và Anh giáo. Rồi giữa người công giáo với nhau, hiện nay cũng có phe nọ phe
kia, và phe nào thì cũng lấy Chúa ra để biện minh cho lập trường của mình. Người ta đã chẳng
chia rẽ nhau vì Chúa đó ư? Quả thật đúng như lời ông già Simêon đã nói: Trẻ nhỏ này sẽ nên
cớ cho nhiều người vấp ngã. Thực ra vấn đề không phải là Đức Kitô đã gây chia rẽ bằng cách
xúi giục người ta ghen ghét hận thù nhau, hay là khích bên này chống lại bên kia. Chúa đến thực
sự để đem lại sự bình an, để xây dựng một thế giới có công lý và tình thương, nền tảng của hoà
bình. Nhưng hoà bình đó, đúng như Ngài đã nói, không phải là loại hoà bình kiểu thế gian, nghĩa
là hoà bình của một sự thoả hiệp vì hèn nhát hay vì áp lực. Bình an của Ngài là bình an nhờ giá
máu thập giá, nghĩa là bình an được xây dựng trên công lý, một công lý mà người ta phải đấu
tranh, phải hy sinh, phải liều mạng mới có thể đạt được. Hoà bình phải là thành quả của công
lý, nhưng có được công lý, hay nói đúng hơn thực hiện được công lý, không phải là chuyện dễ.
Người ta có thể dễ dàng kết bầu kết bạn với nhau để ăn nhậu, để chơi bời, nhưng tìm người hợp
tác làm ăn thì không phải bao giờ cũng dễ. Ăn cho đều, kêu cho sòng, là nguyên tắc không phải
bao giờ cũng thực hiện được, bởi vì khi làm thì ai cũng muốn phần ít, nhưng khi hưởng lợi thì
lại muốn phần nhiều. Như thế, ngồi nhà mát, mà được ăn bát vàng, phải chăng đã là cái thói
thường của người đời. Thế nhưng Chúa Giêsu đã lên án thứ công lý ăn gian ấy, Ngài đấu tranh
cho người nghèo, đem công lý đến cho những kẻ tội lỗi, bởi vì họ mới chính là những người
đáng thương. Công lý của Chúa là bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu. Là hạ bệ những ai quyền thế và
nâng cao những kẻ khiêm nhu, là kẻ khó nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về
tay trắng. Chính vì lý do ấy mà Ngài đã gây chia rẽ bất đồng. Nói khác đi, những ai theo đúng
đường lối của Chúa, thì sẽ không thể nào đứng chung hàng ngũ với những người chà đạp và bóc
lột những kẻ nghèo túng và thấp cổ bé miệng. Vì thế, những ai đứng về phe Chúa thì cũng phải
đứng về phía những người nghèo hèn khốn khổ. Chính Ngài đã đến với họ, sống với họ, chết
như họ và cho họ. Tuy nhiên liệu chúng ta có can đảm đứng về phía Ngài và cùng bước đi với
Ngài hay không.
Trên dặm đường rao giảng Tin Mừng, thỉnh thoảng Đức Giêsu và các môn đệ gặp được một chỗ
nghỉ chân chan chứa tình người. Mácta là chủ nhà đón tiếp Đức Giêsu. Chị tất bật lo việc tiếp
đãi nấu nướng, chị lo lắng trước bao việc phải làm ngay để có được một bữa ăn thịnh soạn hầu
tỏ lòng kính trọng đối với vị khách quý. Trong khi đó cô em Maria lại vô tư và bình thản, ngồi
dưới chân Chúa mà nghe Lời Người. Maria say mê nghe Lời Chúa, Lời mở tâm tư cô ra trước
những chân trời mới mẻ. Cô thấy chẳng có gì hạnh phúc hơn giây phút này, được ngồi nghe
Thầy giảng như một môn đệ thực thụ. Mácta không hiểu được cô em gái, chị cũng không hiểu
được Đức Giêsu, nên cuối cùng chị đã đến thưa với Chúa: Thầy không để ý tới sao? Mácta
muốn Thầy để ý đến việc mình đang làm, muốn Thầy nhận ra sự vất vả mình phải chịu. Em con
để mình con phục vụ. Mácta tưởng chỉ có mình mới là người phục vụ. Chị không nhận thấy
rằng Maria cũng đang tiếp khách và ngồi nghe Chúa cũng là một cách phục vụ. Xin Thầy bảo
em giúp con một tay. Mácta kéo Đức Giêsu vào cuộc, kéo Ngài đứng về phía mình, phía đúng,
để gây áp lực trên cô em. Chị muốn Maria phải vào bếp với mình, phải phục vụ theo kiểu của
mình. Ngấm ngầm, Mácta không chấp nhận kiểu phục vụ của Maria. Có lẽ chị nghĩ đó là một
hành vi vô ích, trong khi có biết bao việc quan trọng khác cần làm. Đức Giêsu không ghét Mácta,
không coi nhẹ việc phục vụ của chị, nhưng buộc lòng Ngài phải lên tiếng. Ngài muốn giải phóng
Mácta khỏi nỗi bồn chồn quá mức. Ngài muốn giải phóng chị khỏi cái tôi, khỏi lối nhìn hẹp hòi,
để nhận ra điều duy nhất cần thiết. Ngài gọi tên chị hai lần: Mácta! Mácta! Con lo lắng và xao
động vì nhiều chuyện quá, dù chuyện ấy là chuyện con lo cho Thầy. Cần thanh lọc lòng mình
khỏi những tìm kiếm vị kỷ, khỏi những ganh tị nhỏ mọn và tự mãn ngấm ngầm, để có thể làm
việc cho Chúa trong bình an thư thái, dù có gặp thất bại hay bị lãng quên. Chỉ có một chuyện
cần mà thôi. Coi chừng nỗi lo lắng về nhiều chuyện phụ lại làm ta quên mất chuyện chính, một
chuyện cần hơn cả, đó là an tĩnh gặp gỡ và lắng nghe Chúa mỗi ngày trong tư thế khiêm hạ của
người môn đệ. Cuộc sống dồn dập hôm nay dễ biến chúng ta thành Mácta: xao động, âu lo, căng
thẳng, mất kiên nhẫn. Cả người làm việc cho Chúa cũng bị cuốn hút. Có lẽ cần bớt việc và thêm
giờ cầu nguyện, cần để cho Chúa làm việc nơi tôi và qua tôi thay vì tự mình bươn chải một
mình. Phải chăng đời Kitô hữu là kết hợp giữa Mácta và Maria, giữa tất bật và an tĩnh, giữa lăng
xăng và ngồi yên, giữa hoạt động và cầu nguyện? Để rồi giữa tất bật, tôi tìm thấy an tĩnh, – giữa
lăng xăng, tôi thấy mình ngồi yên, – giữa hoạt động, tôi thấy mình chiêm niệm.
Thánh Gioan Tông Đồ đã nói “Ai không yêu thương người anh chị em mà họ trông thấy,
thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy được”. Không có ngôn ngữ nào
diễn tả được hai từ tình yêu. Tình yêu luôn mang đến những điều tốt đẹp nhất cho người
mình yêu. Tình yêu bao hàm sự sẻ chia, cảm thông, đồng hành trong cuộc sống.
Trong Tin Mừng hôm nay, mỗi nhân vật đều biểu lộ một tình yêu theo cách của riêng họ
nhưng đáng chú tâm hơn cả là hình ảnh người Samaritanô nhân hậu đã thực thi tình yêu và
lòng thương xót của Chúa. Tình yêu không phải là một cái gì đó mơ hồ nhưng nó phải được
minh chứng bằng hành động cụ thể. Người Samaritano khi thấy người bị thương, không đi
ngang qua như hai người kia mà ông “chạnh lòng thương”, ông bị đánh động bởi một trái
tim thương xót. Hai người kia thấy nhưng tâm hồn khép kín. Thay vào đó, tâm hồn người
Samaritano hòa nhịp với nhịp đập thương xót của Chúa. Chúa đã “chạnh lòng thương” khi
thấy chúng ta phải đối diện với thử thách, đau khổ. Chúa “chạnh lòng thương” khi thấy
chúng ta yếu đuối, tội lỗi. Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi chúng ta nhưng luôn hướng cái nhìn
nội tâm về người Chúa yêu là chính chúng ta. Còn chúng ta thì sao? Đã bao lần chúng ta
thấy anh chị em bên cạnh mình gặp khó khăn, đau khổ mà chúng ta chạnh lòng thương?
Trong cuộc sống, chúng ta không phân loại ai là người thân cận, ai thì không phải. Chúng
ta có thể trở nên một người thân cận với bất kỳ ai mà chúng ta gặp trong thực tế bằng một
nụ cười yêu thương, đôi bàn tay sẻ chia và trái tim bao dung. Nhờ đó, tình yêu sẽ được lan
tỏa và hiện diện.
Cuối bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với người luật sĩ “Hãy đi và làm như vậy”. Tất cả chúng
ta được mời gọi đi cùng con đường Chúa đi, con đường yêu thương và phục vụ. Trên Thánh
Giá, chính Chúa đã chịu đội mạo gai để trang điểm cho chúng ta, dang tay ra để ôm lấy
chúng ta, chịu đóng đinh ở chân để cùng đứng với chúng ta. Chúng ta cũng phải biết mang
tình yêu Chúa vào từng ngày sống để chúng ta trở thành một Samari cho anh chị em chúng
ta.
Thánh Phêrô và Thánh Phaolô là hai “cột trụ” của Hội Thánh. Trước hết chúng ta
hãy dâng lên lời cảm tạ sâu sắc vì Thiên Chúa đã dùng hai Thánh Phêrô và Phaolô
để xây dựng Hội Thánh và rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Chúng ta hãy thể hiện
một lòng tin yêu son sắt với Hội Thánh, với các Đấng kế vị Thánh Phêrô và các Tông
Đồ, đó chính là sứ điệp của Lời Chúa hôm nay.
Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, hai Đấng vĩ đại nhất của lịch sử Giáo Hội, hai kinh
nghiệm thấm thía của những tâm hồn cúi sâu vào cuộc thông hối, chứa chan cảm kích
vì đã được thương xót. Đức tin của các Tông Đồ là đức tin Giáo hội, duy nhất, thánh
thiện, công giáo và tông truyền. Kể từ khi Phêrô tuyên xưng tại Caesarea Philiphê,
“mỗi ngày, toàn thể Giáo hội, chính thánh Phêrô nói: ‘Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên
Chúa hằng sống” (Saint Lêô Cả). Từ đó cho đến nay, tất cả các Kitô hữu ở mọi nơi
mọi thời nam phụ cũng như lão ấu, thuộc các nền văn hóa khác nhau đều tuyên tuyên
xưng cùng một đức tin như thế với sự khải hoàn. Lạy thánh Phêrô và Phaolô Tông
Đồ, chúng con cám ơn Hai Đấng vì hồng ân đức tin mà Các Ngài đã rao giảng và
sống, đồng thời truyền lại cho
chúng con.
Amen.
Lễ Thăng Thiên là một lễ quan trọng, và là một lễ lớn của người Công giáo. Chúa Giêsu Phục Sinh chuyền ngọn lửa cho mỗi người chúng ta như vận động viên chuyển ngọn đuốc cho nhiều vận động viên để đốt vào ngọn đuốc chính thắp sáng trong suốt thời gian các vận động viên tranh tài trong cuộc tranh tài Olympic, hay Sea games vv…Các môn đệ và chúng ta tiếp tục chuyền ngọn lửa đức tin, ngọn lửa truyền giáo cho nhiều người từ thế hệ này đến thế hệ khác vv…Đây là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi Kitô hữu là làm cho Danh Chúa được mọi người nhận biết.
Đức Giêsu đã dạy các môn đệ, các Tông đồ và nhân loại qua Tám Mối Phúc, trong bài giảng trên Núi, Người cho chúng ta thấy vai trò và sứ mạng làm muối, làm men cho đời, đồng thời Người nói chúng ta là ánh sáng :” Chính anh em là muối cho đời.Nhưng muối mà nhạt đi,thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian..Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời “ ( Mt 5,13-16 ).
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, khi Chúa về trời, Chúa luôn tin tưởng trao phó sứ mạng truyền giáo cho Nhóm 12, Chúa không cần chọn thêm ai khác nữa. Các Tông đồ đã can đảm, hiên ngang, lãnh nhận Chúa Thánh Thần và ra đi rao giảng Tin Mừng khắp tận cùng thế giới.Xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con cũng hiên ngang như các Tông đồ làm chứng cho Chúa Phục Sinh bằng chính đời sống đức tin và bác ái của chúng con.Amen.
"Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ
dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.”
(câu 26). Đức Giê-su bảo đảm với các môn đệ rằng Ngài sẽ không bỏ rơi họ. Theo nguyên
ngữ Hy-lạp, Đấng Bảo Trợ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau là Người bênh vực,
Người an ủi, Người cố vấn hoặc Người trợ giúp... Ngài là Thần Khí của Thiên Chúa và
luôn ở bên cạnh chúng ta mãi mãi (câu 16). Đấng Bảo Trợ là người đại diện, bảo vệ,
tranh luận cho chúng ta, và dẫn đưa chúng ta đến bình an đích thực. Có thể hiểu, Ngài sẽ
đưa ra những lời khuyên cần thiết cho chúng ta trong những hoàn cảnh sống cụ thể. Tuy
nhiên, không giống như các luật sư bào chữa ngày nay, những người không có trách
nhiệm tiết lộ sự thật mà thay vào đó, họ phải cố gắng đảm bảo một phán quyết có lợi cho
thân chủ của họ. Còn Đấng Bảo Trợ mà Đức Giê-su giới thiệu ở đây là “Thần Khí sự
thật”. Như vậy, Đấng Bảo Trợ đóng vai trò là người cố vấn, người bênh vực, người trợ
giúp... để nâng đỡ những ai đang gặp khó khăn. Nhiệm vụ quan trọng, Chúa Thánh Thần
sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em
(câu 26). Trong Tin Mừng Gio-an, các môn đệ là những người thường thường hoặc hiểu
sai, hoặc không hiểu điều Đức Giê-su nói. Cho nên, nhiệm vụ của Đấng Bảo Trợ là giúp
họ ghi nhớ và giải thích những lời dạy của Đức Giê-su trong từng hoàn cảnh cụ thể. Lời
hứa này vẫn là một lời khích lệ cho chúng ta ngày nay. Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh
Thần luôn đứng bên cạnh để hướng dẫn chúng ta. Nếu chúng ta làm theo sự hướng dẫn
của Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ dẫn chúng ta đến sự thật. Và nếu chúng ta vâng lời, Thần
Khí sẽ dẫn chúng ta đến niềm vui trọn vẹn. Nhưng các ơn lành này cần sự cộng tác của
con người. Chúng ta phải làm theo, phải tuân theo những lời dạy dỗ của Đức Giê-su. “Ai
không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây, không phải là của
Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.”(câu 24). Chắc chắn, ai yêu mến Đức
Giê-su thật lòng, sẽ giữ lời Ngài. Những ai không yêu mến Đức Giê-su sẽ không giữ lời
Ngài – sẽ không tuân theo điều răn mới của Ngài – sẽ không yêu thương nhau. Như vậy,
bình an của Đức Giê-su để lại có hiện diện trong đời sống của chúng ta hay không, tùy
thuộc vào sự đáp trả của chúng ta về lời mời gọi, anh em hãy tuân giữ những điều Thầy
dạy.”
Sau những thành công hay thất bại, ta thường ngồi lại gẫm suy: Tôi đã được gì và mất
gì. Đã bao giờ ta bận tâm về cái ta phải có là tình yêu thương? Đây là di chúc của Thầy
Giêsu: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có
lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Tình yêu đích thực luôn làm cho cuộc sống càng tươi
đẹp. Nếu khi nào ta cố gắng yêu nhưng vẫn thấy cuộc sống có vẻ bế tắc, đó là khi tình
yêu của ta chưa tinh tuyền, ta chưa yêu như Thầy Giêsu. Trước khi con Thiên Chúa nhập
thể, con người đã biết đến tình yêu. Con người đã yêu và yêu rất nhiều. Tại sao Thầy
Giêsu gọi điều răn của Ngài là “điều răn mới”? Thầy nhắn nhủ các môn đệ: “Thầy ban
cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương
nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Điều răn của Thầy là yêu thương và
phải yêu như Thầy đã yêu thương. Yêu thương theo cách ta muốn không khó nhưng để
yêu như Thầy đã yêu thì phải có ơn Chúa ta mới yêu được. Chiêm ngắm tình yêu Thầy
trong Bữa Tiệc Ly, ta nhận thấy đó là một tình yêu trên mọi tình yêu. Ngài là Thầy và là
Chúa nhưng lại cúi mình rửa chân cho môn đệ. Ngài đã rửa chân cho cả Giuđa là kẻ sẽ
phản bội Ngài. Miếng bánh Ngài trao cho Giuđa như một cử chỉ của lòng yêu thương
mặc dù Thầy Giêsu biết đó là kẻ sẽ bán mình. Có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của Thầy
trong giờ phút này? Thầy đã yêu tất cả, một tình yêu không loại trừ ai, một tình yêu luôn
tôn trọng tự do của người mình yêu thương. Nhân loại đã yêu và lớn lên trong tình yêu.
Sống điều răn của Chúa Giêsu, người môn đệ sẽ trưởng thành, sẽ nên giống Chúa Giêsu.
Tình yêu giúp họ nên đồng hình đồng dạng với Chúa, ở trong vòng tay Chúa, ở trong trái
tim Chúa, người môn đệ sẽ mở rộng vòng tay đón nhận nhau, mở rộng trái tim để yêu
thương nhau và nhìn thấy hạnh phúc của người khác, nhìn nhận chiến thắng của nhau
trong Chúa. Ai cũng muốn được hạnh phúc và hạnh phúc chỉ thật sự đến khi ta dám yêu
như Chúa muốn, một tình yêu quên mình và tự hiến, sẵn sàng trao ban.
Lạy Chúa Giêsu! Xin giúp con mỗi ngày biết chiêm ngắm Chúa chịu đóng đinh, để con
cảm nếm tình yêu dịu ngọt của Chúa, để con được chạm đến trái tim Chúa. Xin Chúa
huấn luyện trái tim con nên giống trái tim Chúa và xin lôi kéo con bước vào con đường
tình yêu của Chúa. Bởi chính nhờ đó mà con hiểu mình hơn và nhận ra Chúa nơi anh chị
em. Amen.
Sau khi đã long trọng mừng lễ Phục Sinh, Phụng vụ Chúa nhật thứ bốn diễn tả Đấng Phục
sinh như một mục tử. Vị mục tử ấy đã quên mình vì chiên, đã hy sinh mạng sống mình để
đàn chiên được cứu rỗi. Tiếp nối giáo huấn của Cựu ước, Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh mục
tử và đàn chiên, khi Người khẳng định: “Tôi là Mục tử nhân lành”. Trong tiếng Hy Lạp,
“Mục tử nhân lành” cũng có nghĩa “Mục tử đích thực”. Nơi Đức Giêsu, có đủ những đức
tính tốt của một mục tử, nhất là sự hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Khi Chúa Giêsu bị bắt
trong vườn Cây Dầu, trước một đám đông lính tráng hằm hằm sát khí, Người nói với họ:
“Vậy nếu các anh tìm tôi, thì hãy để cho những người này đi”. Tác giả Tin mừng còn thêm
lời chú giải: ‘Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói: ‘Những người Cha đã ban cho con,
con không để mất một ai’ (Ga 18, 8-9). Đây chính là nét đẹp của một mục tử đích thực. Cái
chết của Chúa Giêsu đã quy tụ muôn dân. Đó cũng là điều Thượng tế Caipha đã nói. Dưới
cái nhìn của tác giả Gioan, câu nói của thày Thượng tế mang tính tiên tri (x.Ga 11,51). Qua
cái chết của Người, Thiên Chúa sẽ quy tụ mọi con cái tản mác khắp nơi về một mối. Điều ấy
đã được thực hiện ngày hôm nay, khi Tin Mừng Phục sinh được loan báo cho toàn thế giới.
Cây thập giá như cánh tay dang rộng ôm lấy vũ trụ, nơi đó con mọi người thuộc mọi sắc tộc
khác nhau. Chúa Giêsu là Mục tử. Những ai tin Chúa sẽ trở nên con chiên trong đàn chiên
của Người. Ngay từ thuở ban đầu, các tông đồ nghĩ rằng chỉ có người Do Thái mới có thể
trở lại làm Kitô hữu. Với thời gian, các ông hiểu rằng Tin Mừng Phục sinh không chỉ dành
cho dân tuyển lựa, vì Đức Giêsu là ánh sáng muôn dân, và ơn cứu độ nhờ cuộc khổ nạn và
phục sinh của Người được ban cho mọi dân tộc. Mặc dù các tông đồ gặp nhiều chống đối từ
phía người Do Thái, các ông vẫn vững một niềm tin, mạnh dạn can đảm rao giảng Đức Giêsu
Phục sinh, nhờ vậy mà cộng đoàn những người tin Chúa phát triển nhanh chóng. Chính sự
ngăn cản của người Do Thái đã gợi hứng cho các Tông đồ vượt ra ngoài ranh giới Do Thái
và đến với dân ngoại. Hai ông Phêrô và Barnaba khẳng định: “Anh em phải là những người
đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình
không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại”. Khi so
sánh cộng đoàn Giáo Hội với đàn chiên, Chúa Giêsu mong muốn quy tụ chúng ta trong tình
hiệp nhất. Người cũng muốn chúng ta lắng nghe giáo huấn của Người. Giáo huấn của Người
đem cho chúng ta hạnh phúc, như mục tử dẫn đưa đàn chiên tới đồng cỏ xanh, suốt mát lành.
Người cũng là Đường, là Sự thật và là Sự sống đem lại hạnh phúc đời này và đời sau cho
những ai tin vào Người.
Vào buổi bình minh của ngày mới, Chúa hiện ra với các môn đệ lần thứ ba. Nếu như Tin
Mừng không nói rõ, chúng ta không thể tưởng tượng được rằng chính Chúa sẽ chuẩn bị một
cái gì đó cho chính mình cũng như các môn đệ, những ngư dân mệt mỏi suốt đêm nay cần
đồ ăn sáng. Chúa Giêsu Phục Sinh đã cách mạng hóa cuộc sống của họ và biến đổi lịch sử
nhân loại ở mọi nơi mọi thời. Các Tông Đồ thấy rằng họ đã thất bại, họ đã không đạt được
tầm mức mà Đấng Mê-sia mong đợi. Trong lưới của Phêrô và các môn đệ, người ta nhận ra
sự kiệt sức, gần như đầu hàng, không hướng về Thiên Chúa, nhưng lại đối diện với sự nghèo
nàn của chính họ. Phêrô nói : “Tôi đi đánh cá đây“(Ga 21,3), ngay lập tức những người khác
cũng đi theo, dường như muốn nói: “Bây giờ họ không có gì khác để làm“. Quả thật, con
người của các Tông Đồ lúc này: Sau “khổ đau” của Thánh Giá, họ đã trở về gia đình, với
cộng việc thường nhật, có người đi đánh cá, nghĩa là họ trở về lại con người và làm những
công việc trước lúc chưa gặp Chúa Giêsu. Điều này cho thấy bầu khí phân tán và rối loạn
trong nhóm (x. Mc 14, 27, và Mt 26, 31). Đó là khó khăn cho các môn đệ để hiểu những gì
đã xảy ra, khi mà tất cả dường như đến hồi kết, thì trên đường Emmaus, Chúa Giêsu đã đến
với các môn đệ dưới dạng khách đồng hành. Giờ đây, Chúa gặp gỡ họ lúc họ đang ở biển, là
nơi mà tâm trí họ nặng trĩu vì những thử thách gian truân của cuộc đời; Người gặp họ vào
rạng sáng ngày sau khi họ vất vả cực nhọc vô dụng suốt đêm. Lưới họ không có gì, cách nào
đó, điều này cho thấy cảm nghiệm của họ với Chúa Giêsu, họ biết Chúa đang ở bên họ, và
Chúa hứa với họ nhiều điều. Tuy nhiên, họ thấy mình bây giờ với mẻ lưới trống rỗng. Chúng
ta cũng vậy, có lúc thấy mình với mẻ lưới trống rỗng. Đi bộ, kiệt sức, trên đường Emmaus
của chúng ta, Chúa tiến lại gần để giúp chúng ta thực hiện những bước nhảy vọt về sự khiêm
nhường và tin tưởng vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Các tông đồ thấy mỏi
mệt, nhưng xúc động trước tình yêu của Chúa Kitô, họ thả lưới ở “phía bên kia” thuyền. Tại
sao lại ‘bên kia ? Bên kia là bên của lòng thương xót của Thiên Chúa. Tấm lưới của Phêrô
đã được thả xuống từ một phần của lòng thương xót Chúa. Quả thật, lòng thương xót của
Thiên Chúa là rất cần thiết trong thế giới hôm nay. Chúng ta hãy vâng nghe Lời Chúa, tin
tưởng làm theo những gì Chúa truyền dạy để xứng đáng được kể là dân của lòng Chúa xót
thương. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con. Amen.
Trong cuộc hành trình đức tin, những người đã không thấy mà tin và ngay cả những người
đã thấy và đã tin vẫn luôn gặp những trở ngại, nghi ngờ, lo lắng, bất an. Các môn đệ, sau
cuộc “bức tử” của Thầy Giêsu, họ đã hoang mang, lo lắng, sợ sệt, bất an: số phận của họ rồi
sẽ ra sao? Ai sẽ là người hướng dẫn để tiếp tục công việc của Thầy?... Tụ lại với nhau, nhưng
cửa đóng then cài. Và những người đã không thấy mà tin thì sao? Đức tin của chúng ta ở
mức độ nào? Chúng ta tin, nhưng đã sống và chết vì đức tin như thế nào? Đức tin chưa đủ
mạnh, chưa quyết liệt, chưa xác tín..thì luôn gặp những bất an. Thử thách, gian nan, khổ cực
là thước đo đức tin, là những bất an trong tâm hồn. Hiểu được tâm trạng lo lắng, sợ sệt, bất
an của các môn đệ, nên qua hai lần hiện ra với các ông sau khi sống lại, lời trấn an đầu tiên
mà Chúa gửi đến các ông là: “Bình an cho các con” và Ngài hứa sẽ sai Thánh Thần xuống
để cùng đồng hành với họ. Như thế là họ sẽ được bình an, được an tâm để lên đường tiếp tục
công việc của Thầy, không còn phải lo lắng, hoang mang. Và cũng hiểu được tâm trạng bất
an của chúng ta ngày nay, Chúa cũng đã chúc bình an và hứa với chúng ta rằng: “Thầy sẽ
xin Cha Thầy, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác để Ngài ở với các con
luôn mãi”. (Ga. 14,15). Cũng như các môn đệ họp nhau vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa
đã hiện ra và chúc bình an cho họ, ngày Chúa nhật họp nhau tham dự Thánh Lễ, chúng ta
cũng đón nhận bình an của Thiên Chúa và chúc cho nhau bình an của Ngài để rồi lại ra đi
trong bình an của Ngài đến với anh em. Bình an ấy là kết qủa của đức tin. Chúng ta là những
người “đã không thấy mà tin”, và đã được Chúa chúc phúc; vì, như Thánh Gioan Tồng đồ
đã viết trong thư thứ nhất của ngài: “Ai tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, thì kẻ ấy sinh bởi
Thiên Chúa, và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu mến kẻ sinh ra bởi Đấng ấy. Cứ
dấu này chúng ta nhận biết rằng chúng ta yêu mến con cái thiên Chúa, là khi chúng ta yêu
mến Thiên Chúa và thực hành các giới răn Người..., và giới răn Người không nặng nề. Vì
những gì sinh bởi Thiên Chúa đều chiến thắng thế gian, và đây là cuộc thắng trận thế gian,
là chính đức tin của chúng ta. Ai là người chiến thắng thế gian nếu không phải là người tin
rằng Chúa Giêsu là Con Chiên Chúa? (1Ga. 5,1-6) Đức tin đem lại cho chúng ta bình an của
Thiên Chúa. Không những chúng ta phải tuyên xưng đức tin mà còn phải sống đức tin: “Một
thân xác không hơi thở là một xác chết; cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin
chết.” (Gc. 2,26)
Phụng vụ hôm nay trình bày cho ta sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng. Mở đầu
phần nghi thức, nhà thờ chìm vào bóng tối. Bóng tối tượng trưng cho thế lực sự dữ, sự
ác. Khi Đức Giêsu chưa Phục Sinh, sự dữ, sự ác còn thống trị. Nhân loại chìm ngập trong
bóng tối sự chết. Cây nến Phục Sinh tượng trưng cho Đức Kitô Phục Sinh. Đức Kitô
Phục Sinh chiếu lên nguồn sáng mới, xua tan đi bóng đêm. Đức Kitô Phục Sinh là sự
sống mới đã chiến thắng sự chết. Như cây nến muốn chiếu sáng phải tiêu hao chính mình.
Đức Kitô đã phải chịu tiêu hao đi trong những đớn đau, khổ cực, tủi nhục và cả trong cái
chết, mới đem lại ánh sáng sự sống cho ta. Chúng ta là con cái Chúa, là con cái của sự
sáng. Nhưng trong ta còn nhiều phần chưa thuộc về Chúa. Nhiều phần trong tâm hồn ta
còn thuộc về bóng tối. Có thứ bóng tối tội lỗi nhận chìm linh hồn ta trong những vực sâu
tối đen không có đường thoát ra. Có thứ bóng tối đam mê dục vọng gìm linh hồn ta trong
cơn mê ngủ miệt mài, mất hết ý chí phấn đấu tiến lên. Có thứ bóng tối tham lam ích kỷ
làm lu mờ lương tâm, lý trí, khiến ta coi tiền bạc trọng hơn tình nghĩa. Vì tiền bạc mà
dám phạm những tội ác tày trời. Vì lợi nhuận của mình mà làm thiệt hại cho người khác.
Có thứ bóng tối ghen ghét oán thù nó làm cho tâm hồn ta không lúc nào bình an, vì chìm
ngập trong nỗi hận thù dai dẳng. Có thứ bóng tối tự ái kiêu căng khiến cho linh hồn ta
không tìm thấy niềm vui trong sự khiêm nhường tha thứ. Tất cả những bóng tối đó đang
khiến linh hồn ta suy yếu, chết dần chết mòn. Tất cả những bóng tối đó ngăn chặn ánh
sáng của Chúa, ngăn chặn dòng suối ơn lành của Chúa đổ vào hồn ta. Để ánh sáng Phục
Sinh của Chúa tràn vào hồn ta, ta phải quét sạch những bóng tối còn vương vấn trong
tâm hồn. Cũng như cây nến phải chịu tiêu hao mòn mỏi mới nuôi được ánh sáng soi
chiếu đêm tối, ta cũng phải phấn đấu với chính bản thân mình, quên mình, chịu chết cho
tội lỗi, để ta sống một đời sống mới. Khi phấn đấu đẩy lùi bóng tối tội lỗi, ta thoát được
ách ma quỷ và được sống trong ánh sáng của Chúa, trở nên con cái ánh sáng. Lạy Đức
Kitô Phục Sinh, Chúa đã chiến thắng ma quỷ, xin giúp chúng con chiến đấu với ma quỷ,
để được sống một đời sống mới trong ánh sáng của Chúa.
Trong thời đại hôm nay, nền kinh tế phát triển kéo theo mọi sự thay đổi. Con người sống
không dựa vào giá trị chân lý nhưng dựa vào sự hơn thua; từ đó, sinh ra lòng ghen tỵ. Người
lớn thách thức nhau về công việc, khả năng, sự thành công. Sinh viên thách thức nhau về
hiểu biết, gia thế... Điều này khiến cho cuộc sống con người luôn ngột ngạt. Chúa Giêsu
cũng là nạn nhân của lối sống này. Ngài đã chịu nhiều thách thức bởi nhóm Pharisêu, kinh
sư và các thượng tế. Lời Chúa trong Tin Mừng Gioan cho chúng ta thấy điều này. Nhóm
kinh sư và Pharisêu đã dẫn người phụ nữ bị bắt quả tang đang ngoại tình đến đặt ở giữa Chúa
Giêsu và họ. Họ đưa luật Môsê và nói phải ném đá hạng đàn bà này (x. Ga 8,5). Họ làm vậy
là để đặt cái bẫy tìm cớ hại Chúa Giêsu. Nếu Chúa đồng ý xử người phụ nữ phạm tội này
theo lề luật Môsê là ném đá thì trái với những lời tình thương hằng ngày Ngài rao giảng. Nếu
Ngài bênh vực người đàn bà vì Ngài muốn tỏ lòng nhân từ thì Ngài sẽ vi phạm luật Môsê.
Đó là cái bẫy họ giăng ra để dồn Chúa Giêsu vào đường cùng. Bởi ý đồ ấy, hàng ngàn con
mắt đổ dồn vào Chúa Giêsu với câu hỏi dồn dập liên tục. Trước những câu hỏi ấy, Chúa
Giêsu nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Câu hỏi
của Chúa Giêsu bắt buộc họ phải tự trả lời và tự rút lui bởi vì không một ai là không có tội.
Chúa Giêsu không nóng giận, không xua đuổi, mà chỉ trả lời trong tư thế cúi xuống lấy ngón
tay viết trên đất. Câu hỏi của Ngài vừa cho nhóm Pharisêu, kinh sư nhìn lại tội mình cũng
vừa làm cho người đàn bà nhận thấy tội mình. Cũng khi nhận ra tội mình, người phụ nữ được
Chúa Giêsu tha thứ bên ngoài và bên trong tâm hồn với lời khuyên: “Tôi cũng vậy, tôi không
lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Hình ảnh người
phụ nữ ngoại tình đã mặc khải tình yêu và lòng bao dung của Thiên Chúa dành cho con
người. Thánh Augustinô đã nói: “Cuối cùng chỉ còn lại hai nhân vật, người đàn bà và Chúa
Giêsu. Một bên là khốn cùng và một bên là lân tuất; và lòng lân tuất đã thắng thế trong ngày
đó”. Lòng thương xót của Chúa Giêsu đã xóa sạch mọi tội lỗi cho chị. Trong chúng ta, không
ai là không có tội. Với lời kêu gọi của Chúa: “Trở về đi hỡi những đứa con phản nghịch” (Gr
3,14a), chúng ta hãy trở về với tình yêu Chúa qua bí tích hòa giải. Nhờ đó, chúng ta bắt đầu
lại cuộc sống mới trong ngày Chúa Phục Sinh. Lạy Chúa, tội lỗi làm con xa lìa Chúa, xin
cho chúng con nhận ra tội mình mà từ bỏ việc kết án người khác, để bước vào cuộc sống mới
cùng với Chúa Giêsu Phục Sinh. Amen.
Lạy Cha là Thiên Chúa tình yêu!
dù con đã bao lần sa lạc và lầm lỡ,
nhưng Cha vẫn luôn nâng đỡ thứ tha,
con cảm thấy bước chân Cha vội vã,
khi ra đón đứa con sa ngã trở về.
Hôm nay Đức Giêsu cũng mời gọi hết mọi người hãy sám hối, kể cả người mắc tội nhẹ. Ngài
nói: “Các ông tưởng mấy người Galilê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người
Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối
thì các ông sẽ chết hết y như vậy” (Lc 13, 2-3). Sau đó, Ngài cũng dùng dụ ngôn cây vả để truyền
cho chúng ta biết rằng: Con người sống phải ra hoa kết trái bằng chính đời sống của mình, phải
có sự trở về. Người chủ đến thăm vườn, thấy cây vả không kết trái, ông nói: “Anh coi, đã ba năm
nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt đi, để làm gì cho hại đất?” (Lc 13,7).
Lời của ông có vẻ lạnh lung, không gắn bó với những thành quả công sức mình và mọi người thợ
đã bỏ ra để vun trồng, chăm sóc. Nhưng khi xét lại theo chuyên ngành thì lời ông nói cũng có lý
vì để lại một cây không có trái thì chỉ hại đất, tốn phân, tốn công. Người thợ đã can thiệp, nài nỉ:
“Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May
ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi” (Lc 13, 8-9). Và ông chủ vườn đã để cây
vả lại, điều này chứng tỏ lòng thương xót và kiên nhẫn của Thiên Chúa được biểu lộ nơi hình ảnh
ông chủ vườn. Ông vẫn chờ đợi để cây vả ra trái. Với phép ẩn dụ, Đức Giêsu là người thợ, cây
vả là chúng ta. Đức Giêsu luôn chờ đợi sự trở lại của những tâm hồn khiếm khuyết, tâm hồn đang
thất vọng, khô khan và những tâm hồn đang mang ách nặng nề của thế gian. Bởi vậy, Ngài không
ngừng cuốc xới, nhổ cỏ và bón phân cho ta qua Lời Chúa, lời giảng dạy và nhất là chính con
người của Ngài nơi bí tích Thánh Thể. Cây muốn ra trái, trước hết phải được chăm sóc, vun xới,
làm sạch cỏ dại, cây cỏ dại bên cạnh cây vả đang chiếm đất, hay cỏ dại đang leo lên thân cây.
Tuy cỏ dại nhỏ bé nhưng là tác hại gây cho sức sống của cây, khiến cây không thể ra hoa kết trái.
Có những cây ở trong tình trạng an toàn, lá xanh mơn mởn nhưng vẫn không sinh trái nên phải
chặt nó đi. Thế nên, việc sám hối không dừng lại ở sự trở về hay chỉ sửa chữa những tội lỗi của
mình, nhưng là tô điểm cho mình bằng những hành động yêu thương, chia sẻ với mọi người xung
quanh. Đó là những hành động bắt đầu lại cuộc sống mới, cuộc sống yêu thương. Chúa không
đến để nhìn một cái cây được quét trơn bóng bởi những vẻ đẹp thế gian, Ngài đến để tìm hoa quả
chính là lối sống tốt đẹp với Thiên Chúa và tha nhân. Mùa chay, mùa hối thúc chúng ta khiêm
nhường thú nhận tội lỗi đã phạm mà ăn năn trở về với Chúa. Trở về để hưởng sự tha thứ. Con
tim trở về là con tim đã nhổ bỏ những cỏ dại để được chăm sóc và sinh hoa kết trái. Lạy Chúa,
Chúa hằng kiên nhẫn chờ đợi chúng con trở về. Xin cho chúng con đang trên đường tội lỗi biết
dừng lại cảm nghiệm tình yêu Chúa, nghe được tiếng thổn thức của Chúa gọi mà trở về nơi suối
nguồn yêu thương của Chúa. Amen.
Qua biến cố biến hình, Chúa muốn củng cố niềm tin của các môn đệ và qua các môn đệ,
Người muốn cho mọi người chúng ta thấy trước phần vinh quang của Người sau phục sinh.
Cũng có nghĩa là Chúa muốn cho chúng ta biết rằng cuộc thương khó và khổ nạn mà Người
sắp chịu không phải là tận cùng, là hết, nhưng chính là bước đường dẫn tới vinh quang. Như
vậy, Chúa biến hình để cho mọi người chúng ta thấy thân xác vinh hiển của Chúa. Chính
Chúa Giê-su cũng đã tuyên bố rõ rệt điều đó trong Tin mừng thánh Mát-thêu: “Bấy giờ kẻ
lành sẽ sáng chói như mặt trời trong Nước của Cha mình.” (Mt. 13, 43) Vì thế, sự kiện biến
hình của Chúa Giê-su cho chúng ta hiểu được ý nghĩa và giá trị đích thực của người Ki-tô
hữu là phải qua những sự hy sinh và đau khổ vì đức tin, vì Tin mừng và vì Chúa, thì mới
được thông phần vinh quang của Chúa. Chúng ta phải hướng cuộc sống trần gian về sự vinh
quang Nước Trời. Vì vậy, sống sự biến hình là một đòi hỏi hằng ngày của người Kitô hữu.
Nói cách khác, cuộc sống Kitô hữu của chúng ta phải không ngừng biến đổi để được trở nên
đồng hình, đồng dạng với Chúa Kitô hơn. Đây cũng là điều thánh Phaolô dạy chúng ta trong
bài đọc 2, ngài nói: “Phần chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong
đợi Ðấng Cứu Chuộc là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người sẽ biến đổi thân xác hèn hạ
của chúng ta nên giống như thân xác hiển vinh của Người.” Thánh Phao-lô cũng rất đau
buồn khi nhận thấy có những Ki-tô hữu sống thù nghịch với thập giá. Vì thế thánh Phao-lô
khuyên chúng ta hãy góp phần vào sự biến thân xác của mình bằng cách khử trừ tội lỗi, sửa
đổi lại những thói hư tật xấu, thay đổi cuộc sống lầm lạc, biết hãm mình, hy sinh và chịu
thiệt thòi, đau khổ để trong ngày sau hết chúng ta sẽ được mặc lấy ánh vinh quang phục sinh
của Chúa Ki-tô. Sự kiện Chúa biến hình còn dạy chúng ta phải lắng nghe và vâng lời Chúa.
Thiên Chúa muốn mạc khải, nói hay dạy điều gì cho chúng ta thì Người nói và dạy qua Chúa
Giê-su. Lời Chúa là sự sống và là ánh sáng soi đường dẫn chúng ta đi. Nếu chúng ta muốn
có ơn Chúa, muốn sống trong an bình, vui mừng và hạnh phúc đời này, và hưởng vinh quang
đời sau thì chúng ta phải lắng nghe và sống lời Chúa dạy. Xin Chúa giúp chúng ta sống thời
điểm mùa chay này can đảm sống lời Chúa dạy, để có sức mạnh chiến đấu và chiến thắng
tội lỗi và thói hư nết xấu, biết canh tân và biến đổi đời sống, trở nên tốt đẹp, thánh thiện hơn,
cũng như để sống trong bình an, vui mừng, hạnh phúc đời này và hưởng vinh quang của
Chúa đời sau.