Chuẩn bị tâm hồn để đón mừng lễ Giáng Sinh là quan trọng, nhưng chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn để
đón Chúa đến với mình trong ngày tận thế lại còn quan trọng hơn. Lời Chúa hôm nay sẽ giúp chúng ta
làm được điều này. Bởi vì hôm nay Thánh Matthêu nói cho chúng ta biết, ông Gioan Tẩy Giả đang ở
trong tù, ông thắc mắc không biết Chúa Giêsu có phải là Đấng Cứu Thế hay không! Ông Gioan cũng như
những người Do Thái hồi đó, họ rất mong chờ Đấng Cứu Thế đến. Đang ở trong tù, ông Gioan không đi
được nên đã sai môn đệ của ông đến hỏi Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu đã trả lời: Các anh hãy về kể lại cho
ông Gioan những gì các anh đã nghe ta nói và những gì các anh đã nhìn thấy ta làm, đó là Ta đã làm cho
người mù được nhìn thấy, người què chân đi được, người phong cùi được Ta chữa khỏi, người điếc nghe
được, người chết Ta làm cho sống lại. Những việc làm đó đã nói cho ông Gioan, cho người Do Thái và
cho cả chúng ta biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Là Đấng Cứu Thế mà tiên tri Isaia đã loan báo. Ngài
đến để thiết lập vương quốc của Ngài ở trần gian. Chúa đang ở đó với ông Gioan, với người Do Thái mà
họ không nhận ra. Chúa đến để chữa lành, để yêu thương, để ban niềm vui và sự bình an cho chúng ta.
Chúa đến một cách âm thầm và lặng lẽ. Chúa đang ở kề bên chúng ta mà nhiều khi chúng ta lại không
nhận ra Ngài.
Nghe lời tuyên bố của Đức Giê-su, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn
để làm môn đệ Đức Giê-su thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải từ bỏ tận căn, không những
của cải, người thân, mà cả những tiện nghi, kế hoạch riêng, sự quyến luyến, những giao tiếp hợp
pháp và thậm trí cả chính mạng sống mình nữa nữa (x. Lc 14). Chúa yêu cầu phải “bỏ” cha mẹ,
vợ con, anh em, chị em. Có người hỏi: Phải chăng, điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người
thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Đức Giê-su, người ta phải thay thế tình yêu
đối với người thân cận bằng sự từ bỏ đối với họ? Không phải thế, Đức Giê-su đòi hỏi người
môn đệ phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất.
Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Thiên Chúa là Đấng dựng nên cả cha
mẹ chúng ta, nên Đức Giê-su yêu cầu con người dành cho Thiên Chúa một vị trí đặc biệt và cao
nhất. Chúa Giê-su không cổ võ việc từ bỏ gia đình hay cắt đứt tình thân, mà Người đòi hỏi một
sự đảo chiều trong ưu tiên của ta: Phải đặt Thiên Chúa làm trung tâm, hơn cả những điều quý
nhất. Chúa không xem thường cha mẹ, vợ con, nhưng Chúa biết rằng: nếu ta yêu mến Người
hơn, thì ta sẽ yêu người thân một cách đúng đắn hơn, yêu với tình yêu vô điều kiện và không
chiếm hữu. Thánh Gio-an Kim Khẩu đã từng nói: “Đức Ki-tô không lấy đi khỏi chúng ta những
gì là quý giá, mà Người dạy chúng ta đặt mọi sự vào đúng trật tự: yêu Chúa trước hết, để mọi
tình yêu khác được thanh luyện”. Theo Chúa là từ bỏ điều quý để đạt được điều quý hơn. Như
người xây tháp hay vị vua sắp ra trận trong Tin Mừng hôm nay, ai cũng cần lượng giá, biết
người, biết mình. Tác giả sách Khôn Ngoan thốt lên: “Ai trong loài người có thể biết được ý
định của Thiên Chúa?” (Kn 9,13). Đúng vậy, nhiều lúc con người tưởng mình khôn ngoan,
thành công, sắp đặt được mọi sự, nhưng không biết rằng khôn ngoan đích thực là nhận ra điều
Chúa muốn nơi mình, và sống theo đó. Vì thế, trong Hiến chế Gaudium et Spes, Công đồng
Vaticanô II đã viết: “Con người chỉ thực sự là chính mình khi hiến dâng trọn vẹn cho Thiên
Chúa” (GS 24). Lời Chúa hôm nay mời gọi ta xét lại: Tôi có đang chọn Chúa là nhất chưa? Tôi
có sẵn sàng từ bỏ một chút tiện nghi, một chút thời gian, một chút tự ái... để sống theo thánh ý
Chúa không?
“Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11). Chúa Giêsu
rất ưa thích sự khiêm nhường mà còn làm gương trước cho mọi người. Là một vị Thiên Chúa
quyền năng, nhưng Người đã hạ mình làm kiếp phàm nhân. Là bậc thầy trong thiên hạ, lại quì
xuống rửa chân cho các đệ tử. Chỗ của Người là “chỗ nhất” trên trời cao, nhưng lại chọn “chỗ
cuối” dưới chân con người. Chúa Giêsu tự hạ mình xuống như thế: không phải là để được tôn
lên, vì dưới vòm trời này ngôi báu nào có thể chứa được Người. Người khiêm nhường đến tự
huỷ như thế, cũng là để phục vụ con người đến hết mình, và để yêu thương họ cho đến cùng. Vì
thế, khiêm nhường để gây chú ý, để được tiếng khen, để được tôn lên, mà không nhằm phục vụ,
yêu thương thì chỉ là kiêu ngạo trá hình mà thôi. Có thể nói, khiêm nhường như Chúa dạy, chính
là “tự nhận mình là không và Chúa là tất cả”, nên chỉ cậy dựa vào Chúa mà hy sinh, mà phục
vụ và yêu thương mọi người. Chỉ có những ai hạ mình xuống như thế mới đáng được Chúa tôn
lên. Thánh Giuse đã khiêm nhường phục vụ, yêu thương Đức Mẹ và Đức Giêsu tại quê nghèo
Nadarét, nên đã được tôn làm cha nuôi Chúa Cứu Thế. Đức Maria đã khiêm nhường nhận mình
là nữ tì của Thiên Chúa, để suốt đời phục vụ chăm lo cho Con Chúa Trời, nên đã được tôn làm
Mẹ Thiên Chúa. Noi gương Chúa biết bao con người đang âm thầm xả thân cho đồng loại, họ
khiêm nhường làm những công việc dơ dáy hôi tanh, để chăm sóc cho những người phong cùi
lở loét, những bệnh nhân nan y bất trị, những người hấp hối nhặt được từ đường phố, những trẻ
em nghèo đói, thương tật trong các nước chiến tranh, lạc hậu. Chính khí yêu thương vô vị lợi,
chính khi chúng ta “đãi tiệc những kẻ nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, những kẻ không có
khả năng mời lại”, thì chúng ta “mới thật có phúc”, vì chính Thiên Chúa sẽ trả công cho chúng
ta. Người không có ý phân biệt giàu nghèo, thân sơ, vì trước mắt Thiên Chúa, chúng ta là anh
em. Nhưng Người muốn lưu ý chúng ta rằng: dù người được mời giàu hay nghèo, thân hay
không thân, chúng ta cũng đừng mong họ đáp trả lại theo kiểu “ăn miếng trả miếng”. Đó là lòng
bác ái vô vị lợi mà Chúa muốn dạy chúng ta hôm nay. Có thể chúng ta thực thi việc bác ái cho
anh em chỉ vì vụ lợi, vì khoe khoang, vì muốn hơn người, vì trách nhiệm hay vì phần thưởng.
Nhưng sự trao ban đích thực chính là trao ban vì yêu thương. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa
yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một Người” (Ga 3,16). Chỉ những ai trao ban vô
vị lợi, trao ban vì yêu thương, trao ban chính bản thân mới trở nên giống Thiên Chúa.
Đức Kitô đến để ban bình an hay để chia rẽ? Cứ nhìn vào cục diện của Giáo Hội, vào bộ mặt
của thế giới ngày nay, thì khách quan mà nói: Đức Kitô đúng là đã gây chia rẽ. Ngài chia rẽ
những kẻ tin và không tin. Rồi ngay giữa những kẻ tin thì cũng còn có chuyện Công giáo, Chính
Thống, Tin Lành và Anh giáo. Rồi giữa người công giáo với nhau, hiện nay cũng có phe nọ phe
kia, và phe nào thì cũng lấy Chúa ra để biện minh cho lập trường của mình. Người ta đã chẳng
chia rẽ nhau vì Chúa đó ư? Quả thật đúng như lời ông già Simêon đã nói: Trẻ nhỏ này sẽ nên
cớ cho nhiều người vấp ngã. Thực ra vấn đề không phải là Đức Kitô đã gây chia rẽ bằng cách
xúi giục người ta ghen ghét hận thù nhau, hay là khích bên này chống lại bên kia. Chúa đến thực
sự để đem lại sự bình an, để xây dựng một thế giới có công lý và tình thương, nền tảng của hoà
bình. Nhưng hoà bình đó, đúng như Ngài đã nói, không phải là loại hoà bình kiểu thế gian, nghĩa
là hoà bình của một sự thoả hiệp vì hèn nhát hay vì áp lực. Bình an của Ngài là bình an nhờ giá
máu thập giá, nghĩa là bình an được xây dựng trên công lý, một công lý mà người ta phải đấu
tranh, phải hy sinh, phải liều mạng mới có thể đạt được. Hoà bình phải là thành quả của công
lý, nhưng có được công lý, hay nói đúng hơn thực hiện được công lý, không phải là chuyện dễ.
Người ta có thể dễ dàng kết bầu kết bạn với nhau để ăn nhậu, để chơi bời, nhưng tìm người hợp
tác làm ăn thì không phải bao giờ cũng dễ. Ăn cho đều, kêu cho sòng, là nguyên tắc không phải
bao giờ cũng thực hiện được, bởi vì khi làm thì ai cũng muốn phần ít, nhưng khi hưởng lợi thì
lại muốn phần nhiều. Như thế, ngồi nhà mát, mà được ăn bát vàng, phải chăng đã là cái thói
thường của người đời. Thế nhưng Chúa Giêsu đã lên án thứ công lý ăn gian ấy, Ngài đấu tranh
cho người nghèo, đem công lý đến cho những kẻ tội lỗi, bởi vì họ mới chính là những người
đáng thương. Công lý của Chúa là bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu. Là hạ bệ những ai quyền thế và
nâng cao những kẻ khiêm nhu, là kẻ khó nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về
tay trắng. Chính vì lý do ấy mà Ngài đã gây chia rẽ bất đồng. Nói khác đi, những ai theo đúng
đường lối của Chúa, thì sẽ không thể nào đứng chung hàng ngũ với những người chà đạp và bóc
lột những kẻ nghèo túng và thấp cổ bé miệng. Vì thế, những ai đứng về phe Chúa thì cũng phải
đứng về phía những người nghèo hèn khốn khổ. Chính Ngài đã đến với họ, sống với họ, chết
như họ và cho họ. Tuy nhiên liệu chúng ta có can đảm đứng về phía Ngài và cùng bước đi với
Ngài hay không.
"Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ
dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.”
(câu 26). Đức Giê-su bảo đảm với các môn đệ rằng Ngài sẽ không bỏ rơi họ. Theo nguyên
ngữ Hy-lạp, Đấng Bảo Trợ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau là Người bênh vực,
Người an ủi, Người cố vấn hoặc Người trợ giúp... Ngài là Thần Khí của Thiên Chúa và
luôn ở bên cạnh chúng ta mãi mãi (câu 16). Đấng Bảo Trợ là người đại diện, bảo vệ,
tranh luận cho chúng ta, và dẫn đưa chúng ta đến bình an đích thực. Có thể hiểu, Ngài sẽ
đưa ra những lời khuyên cần thiết cho chúng ta trong những hoàn cảnh sống cụ thể. Tuy
nhiên, không giống như các luật sư bào chữa ngày nay, những người không có trách
nhiệm tiết lộ sự thật mà thay vào đó, họ phải cố gắng đảm bảo một phán quyết có lợi cho
thân chủ của họ. Còn Đấng Bảo Trợ mà Đức Giê-su giới thiệu ở đây là “Thần Khí sự
thật”. Như vậy, Đấng Bảo Trợ đóng vai trò là người cố vấn, người bênh vực, người trợ
giúp... để nâng đỡ những ai đang gặp khó khăn. Nhiệm vụ quan trọng, Chúa Thánh Thần
sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em
(câu 26). Trong Tin Mừng Gio-an, các môn đệ là những người thường thường hoặc hiểu
sai, hoặc không hiểu điều Đức Giê-su nói. Cho nên, nhiệm vụ của Đấng Bảo Trợ là giúp
họ ghi nhớ và giải thích những lời dạy của Đức Giê-su trong từng hoàn cảnh cụ thể. Lời
hứa này vẫn là một lời khích lệ cho chúng ta ngày nay. Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh
Thần luôn đứng bên cạnh để hướng dẫn chúng ta. Nếu chúng ta làm theo sự hướng dẫn
của Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ dẫn chúng ta đến sự thật. Và nếu chúng ta vâng lời, Thần
Khí sẽ dẫn chúng ta đến niềm vui trọn vẹn. Nhưng các ơn lành này cần sự cộng tác của
con người. Chúng ta phải làm theo, phải tuân theo những lời dạy dỗ của Đức Giê-su. “Ai
không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây, không phải là của
Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.”(câu 24). Chắc chắn, ai yêu mến Đức
Giê-su thật lòng, sẽ giữ lời Ngài. Những ai không yêu mến Đức Giê-su sẽ không giữ lời
Ngài – sẽ không tuân theo điều răn mới của Ngài – sẽ không yêu thương nhau. Như vậy,
bình an của Đức Giê-su để lại có hiện diện trong đời sống của chúng ta hay không, tùy
thuộc vào sự đáp trả của chúng ta về lời mời gọi, anh em hãy tuân giữ những điều Thầy
dạy.”
Sau khi đã long trọng mừng lễ Phục Sinh, Phụng vụ Chúa nhật thứ bốn diễn tả Đấng Phục
sinh như một mục tử. Vị mục tử ấy đã quên mình vì chiên, đã hy sinh mạng sống mình để
đàn chiên được cứu rỗi. Tiếp nối giáo huấn của Cựu ước, Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh mục
tử và đàn chiên, khi Người khẳng định: “Tôi là Mục tử nhân lành”. Trong tiếng Hy Lạp,
“Mục tử nhân lành” cũng có nghĩa “Mục tử đích thực”. Nơi Đức Giêsu, có đủ những đức
tính tốt của một mục tử, nhất là sự hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Khi Chúa Giêsu bị bắt
trong vườn Cây Dầu, trước một đám đông lính tráng hằm hằm sát khí, Người nói với họ:
“Vậy nếu các anh tìm tôi, thì hãy để cho những người này đi”. Tác giả Tin mừng còn thêm
lời chú giải: ‘Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói: ‘Những người Cha đã ban cho con,
con không để mất một ai’ (Ga 18, 8-9). Đây chính là nét đẹp của một mục tử đích thực. Cái
chết của Chúa Giêsu đã quy tụ muôn dân. Đó cũng là điều Thượng tế Caipha đã nói. Dưới
cái nhìn của tác giả Gioan, câu nói của thày Thượng tế mang tính tiên tri (x.Ga 11,51). Qua
cái chết của Người, Thiên Chúa sẽ quy tụ mọi con cái tản mác khắp nơi về một mối. Điều ấy
đã được thực hiện ngày hôm nay, khi Tin Mừng Phục sinh được loan báo cho toàn thế giới.
Cây thập giá như cánh tay dang rộng ôm lấy vũ trụ, nơi đó con mọi người thuộc mọi sắc tộc
khác nhau. Chúa Giêsu là Mục tử. Những ai tin Chúa sẽ trở nên con chiên trong đàn chiên
của Người. Ngay từ thuở ban đầu, các tông đồ nghĩ rằng chỉ có người Do Thái mới có thể
trở lại làm Kitô hữu. Với thời gian, các ông hiểu rằng Tin Mừng Phục sinh không chỉ dành
cho dân tuyển lựa, vì Đức Giêsu là ánh sáng muôn dân, và ơn cứu độ nhờ cuộc khổ nạn và
phục sinh của Người được ban cho mọi dân tộc. Mặc dù các tông đồ gặp nhiều chống đối từ
phía người Do Thái, các ông vẫn vững một niềm tin, mạnh dạn can đảm rao giảng Đức Giêsu
Phục sinh, nhờ vậy mà cộng đoàn những người tin Chúa phát triển nhanh chóng. Chính sự
ngăn cản của người Do Thái đã gợi hứng cho các Tông đồ vượt ra ngoài ranh giới Do Thái
và đến với dân ngoại. Hai ông Phêrô và Barnaba khẳng định: “Anh em phải là những người
đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình
không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại”. Khi so
sánh cộng đoàn Giáo Hội với đàn chiên, Chúa Giêsu mong muốn quy tụ chúng ta trong tình
hiệp nhất. Người cũng muốn chúng ta lắng nghe giáo huấn của Người. Giáo huấn của Người
đem cho chúng ta hạnh phúc, như mục tử dẫn đưa đàn chiên tới đồng cỏ xanh, suốt mát lành.
Người cũng là Đường, là Sự thật và là Sự sống đem lại hạnh phúc đời này và đời sau cho
những ai tin vào Người.
Trong cuộc hành trình đức tin, những người đã không thấy mà tin và ngay cả những người
đã thấy và đã tin vẫn luôn gặp những trở ngại, nghi ngờ, lo lắng, bất an. Các môn đệ, sau
cuộc “bức tử” của Thầy Giêsu, họ đã hoang mang, lo lắng, sợ sệt, bất an: số phận của họ rồi
sẽ ra sao? Ai sẽ là người hướng dẫn để tiếp tục công việc của Thầy?... Tụ lại với nhau, nhưng
cửa đóng then cài. Và những người đã không thấy mà tin thì sao? Đức tin của chúng ta ở
mức độ nào? Chúng ta tin, nhưng đã sống và chết vì đức tin như thế nào? Đức tin chưa đủ
mạnh, chưa quyết liệt, chưa xác tín..thì luôn gặp những bất an. Thử thách, gian nan, khổ cực
là thước đo đức tin, là những bất an trong tâm hồn. Hiểu được tâm trạng lo lắng, sợ sệt, bất
an của các môn đệ, nên qua hai lần hiện ra với các ông sau khi sống lại, lời trấn an đầu tiên
mà Chúa gửi đến các ông là: “Bình an cho các con” và Ngài hứa sẽ sai Thánh Thần xuống
để cùng đồng hành với họ. Như thế là họ sẽ được bình an, được an tâm để lên đường tiếp tục
công việc của Thầy, không còn phải lo lắng, hoang mang. Và cũng hiểu được tâm trạng bất
an của chúng ta ngày nay, Chúa cũng đã chúc bình an và hứa với chúng ta rằng: “Thầy sẽ
xin Cha Thầy, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác để Ngài ở với các con
luôn mãi”. (Ga. 14,15). Cũng như các môn đệ họp nhau vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa
đã hiện ra và chúc bình an cho họ, ngày Chúa nhật họp nhau tham dự Thánh Lễ, chúng ta
cũng đón nhận bình an của Thiên Chúa và chúc cho nhau bình an của Ngài để rồi lại ra đi
trong bình an của Ngài đến với anh em. Bình an ấy là kết qủa của đức tin. Chúng ta là những
người “đã không thấy mà tin”, và đã được Chúa chúc phúc; vì, như Thánh Gioan Tồng đồ
đã viết trong thư thứ nhất của ngài: “Ai tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, thì kẻ ấy sinh bởi
Thiên Chúa, và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu mến kẻ sinh ra bởi Đấng ấy. Cứ
dấu này chúng ta nhận biết rằng chúng ta yêu mến con cái thiên Chúa, là khi chúng ta yêu
mến Thiên Chúa và thực hành các giới răn Người..., và giới răn Người không nặng nề. Vì
những gì sinh bởi Thiên Chúa đều chiến thắng thế gian, và đây là cuộc thắng trận thế gian,
là chính đức tin của chúng ta. Ai là người chiến thắng thế gian nếu không phải là người tin
rằng Chúa Giêsu là Con Chiên Chúa? (1Ga. 5,1-6) Đức tin đem lại cho chúng ta bình an của
Thiên Chúa. Không những chúng ta phải tuyên xưng đức tin mà còn phải sống đức tin: “Một
thân xác không hơi thở là một xác chết; cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin
chết.” (Gc. 2,26)
Phụng vụ hôm nay trình bày cho ta sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng. Mở đầu
phần nghi thức, nhà thờ chìm vào bóng tối. Bóng tối tượng trưng cho thế lực sự dữ, sự
ác. Khi Đức Giêsu chưa Phục Sinh, sự dữ, sự ác còn thống trị. Nhân loại chìm ngập trong
bóng tối sự chết. Cây nến Phục Sinh tượng trưng cho Đức Kitô Phục Sinh. Đức Kitô
Phục Sinh chiếu lên nguồn sáng mới, xua tan đi bóng đêm. Đức Kitô Phục Sinh là sự
sống mới đã chiến thắng sự chết. Như cây nến muốn chiếu sáng phải tiêu hao chính mình.
Đức Kitô đã phải chịu tiêu hao đi trong những đớn đau, khổ cực, tủi nhục và cả trong cái
chết, mới đem lại ánh sáng sự sống cho ta. Chúng ta là con cái Chúa, là con cái của sự
sáng. Nhưng trong ta còn nhiều phần chưa thuộc về Chúa. Nhiều phần trong tâm hồn ta
còn thuộc về bóng tối. Có thứ bóng tối tội lỗi nhận chìm linh hồn ta trong những vực sâu
tối đen không có đường thoát ra. Có thứ bóng tối đam mê dục vọng gìm linh hồn ta trong
cơn mê ngủ miệt mài, mất hết ý chí phấn đấu tiến lên. Có thứ bóng tối tham lam ích kỷ
làm lu mờ lương tâm, lý trí, khiến ta coi tiền bạc trọng hơn tình nghĩa. Vì tiền bạc mà
dám phạm những tội ác tày trời. Vì lợi nhuận của mình mà làm thiệt hại cho người khác.
Có thứ bóng tối ghen ghét oán thù nó làm cho tâm hồn ta không lúc nào bình an, vì chìm
ngập trong nỗi hận thù dai dẳng. Có thứ bóng tối tự ái kiêu căng khiến cho linh hồn ta
không tìm thấy niềm vui trong sự khiêm nhường tha thứ. Tất cả những bóng tối đó đang
khiến linh hồn ta suy yếu, chết dần chết mòn. Tất cả những bóng tối đó ngăn chặn ánh
sáng của Chúa, ngăn chặn dòng suối ơn lành của Chúa đổ vào hồn ta. Để ánh sáng Phục
Sinh của Chúa tràn vào hồn ta, ta phải quét sạch những bóng tối còn vương vấn trong
tâm hồn. Cũng như cây nến phải chịu tiêu hao mòn mỏi mới nuôi được ánh sáng soi
chiếu đêm tối, ta cũng phải phấn đấu với chính bản thân mình, quên mình, chịu chết cho
tội lỗi, để ta sống một đời sống mới. Khi phấn đấu đẩy lùi bóng tối tội lỗi, ta thoát được
ách ma quỷ và được sống trong ánh sáng của Chúa, trở nên con cái ánh sáng. Lạy Đức
Kitô Phục Sinh, Chúa đã chiến thắng ma quỷ, xin giúp chúng con chiến đấu với ma quỷ,
để được sống một đời sống mới trong ánh sáng của Chúa.
Trong thời đại hôm nay, nền kinh tế phát triển kéo theo mọi sự thay đổi. Con người sống
không dựa vào giá trị chân lý nhưng dựa vào sự hơn thua; từ đó, sinh ra lòng ghen tỵ. Người
lớn thách thức nhau về công việc, khả năng, sự thành công. Sinh viên thách thức nhau về
hiểu biết, gia thế... Điều này khiến cho cuộc sống con người luôn ngột ngạt. Chúa Giêsu
cũng là nạn nhân của lối sống này. Ngài đã chịu nhiều thách thức bởi nhóm Pharisêu, kinh
sư và các thượng tế. Lời Chúa trong Tin Mừng Gioan cho chúng ta thấy điều này. Nhóm
kinh sư và Pharisêu đã dẫn người phụ nữ bị bắt quả tang đang ngoại tình đến đặt ở giữa Chúa
Giêsu và họ. Họ đưa luật Môsê và nói phải ném đá hạng đàn bà này (x. Ga 8,5). Họ làm vậy
là để đặt cái bẫy tìm cớ hại Chúa Giêsu. Nếu Chúa đồng ý xử người phụ nữ phạm tội này
theo lề luật Môsê là ném đá thì trái với những lời tình thương hằng ngày Ngài rao giảng. Nếu
Ngài bênh vực người đàn bà vì Ngài muốn tỏ lòng nhân từ thì Ngài sẽ vi phạm luật Môsê.
Đó là cái bẫy họ giăng ra để dồn Chúa Giêsu vào đường cùng. Bởi ý đồ ấy, hàng ngàn con
mắt đổ dồn vào Chúa Giêsu với câu hỏi dồn dập liên tục. Trước những câu hỏi ấy, Chúa
Giêsu nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Câu hỏi
của Chúa Giêsu bắt buộc họ phải tự trả lời và tự rút lui bởi vì không một ai là không có tội.
Chúa Giêsu không nóng giận, không xua đuổi, mà chỉ trả lời trong tư thế cúi xuống lấy ngón
tay viết trên đất. Câu hỏi của Ngài vừa cho nhóm Pharisêu, kinh sư nhìn lại tội mình cũng
vừa làm cho người đàn bà nhận thấy tội mình. Cũng khi nhận ra tội mình, người phụ nữ được
Chúa Giêsu tha thứ bên ngoài và bên trong tâm hồn với lời khuyên: “Tôi cũng vậy, tôi không
lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Hình ảnh người
phụ nữ ngoại tình đã mặc khải tình yêu và lòng bao dung của Thiên Chúa dành cho con
người. Thánh Augustinô đã nói: “Cuối cùng chỉ còn lại hai nhân vật, người đàn bà và Chúa
Giêsu. Một bên là khốn cùng và một bên là lân tuất; và lòng lân tuất đã thắng thế trong ngày
đó”. Lòng thương xót của Chúa Giêsu đã xóa sạch mọi tội lỗi cho chị. Trong chúng ta, không
ai là không có tội. Với lời kêu gọi của Chúa: “Trở về đi hỡi những đứa con phản nghịch” (Gr
3,14a), chúng ta hãy trở về với tình yêu Chúa qua bí tích hòa giải. Nhờ đó, chúng ta bắt đầu
lại cuộc sống mới trong ngày Chúa Phục Sinh. Lạy Chúa, tội lỗi làm con xa lìa Chúa, xin
cho chúng con nhận ra tội mình mà từ bỏ việc kết án người khác, để bước vào cuộc sống mới
cùng với Chúa Giêsu Phục Sinh. Amen.
Lạy Cha là Thiên Chúa tình yêu!
dù con đã bao lần sa lạc và lầm lỡ,
nhưng Cha vẫn luôn nâng đỡ thứ tha,
con cảm thấy bước chân Cha vội vã,
khi ra đón đứa con sa ngã trở về.
Hôm nay Đức Giêsu cũng mời gọi hết mọi người hãy sám hối, kể cả người mắc tội nhẹ. Ngài
nói: “Các ông tưởng mấy người Galilê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người
Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối
thì các ông sẽ chết hết y như vậy” (Lc 13, 2-3). Sau đó, Ngài cũng dùng dụ ngôn cây vả để truyền
cho chúng ta biết rằng: Con người sống phải ra hoa kết trái bằng chính đời sống của mình, phải
có sự trở về. Người chủ đến thăm vườn, thấy cây vả không kết trái, ông nói: “Anh coi, đã ba năm
nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt đi, để làm gì cho hại đất?” (Lc 13,7).
Lời của ông có vẻ lạnh lung, không gắn bó với những thành quả công sức mình và mọi người thợ
đã bỏ ra để vun trồng, chăm sóc. Nhưng khi xét lại theo chuyên ngành thì lời ông nói cũng có lý
vì để lại một cây không có trái thì chỉ hại đất, tốn phân, tốn công. Người thợ đã can thiệp, nài nỉ:
“Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May
ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi” (Lc 13, 8-9). Và ông chủ vườn đã để cây
vả lại, điều này chứng tỏ lòng thương xót và kiên nhẫn của Thiên Chúa được biểu lộ nơi hình ảnh
ông chủ vườn. Ông vẫn chờ đợi để cây vả ra trái. Với phép ẩn dụ, Đức Giêsu là người thợ, cây
vả là chúng ta. Đức Giêsu luôn chờ đợi sự trở lại của những tâm hồn khiếm khuyết, tâm hồn đang
thất vọng, khô khan và những tâm hồn đang mang ách nặng nề của thế gian. Bởi vậy, Ngài không
ngừng cuốc xới, nhổ cỏ và bón phân cho ta qua Lời Chúa, lời giảng dạy và nhất là chính con
người của Ngài nơi bí tích Thánh Thể. Cây muốn ra trái, trước hết phải được chăm sóc, vun xới,
làm sạch cỏ dại, cây cỏ dại bên cạnh cây vả đang chiếm đất, hay cỏ dại đang leo lên thân cây.
Tuy cỏ dại nhỏ bé nhưng là tác hại gây cho sức sống của cây, khiến cây không thể ra hoa kết trái.
Có những cây ở trong tình trạng an toàn, lá xanh mơn mởn nhưng vẫn không sinh trái nên phải
chặt nó đi. Thế nên, việc sám hối không dừng lại ở sự trở về hay chỉ sửa chữa những tội lỗi của
mình, nhưng là tô điểm cho mình bằng những hành động yêu thương, chia sẻ với mọi người xung
quanh. Đó là những hành động bắt đầu lại cuộc sống mới, cuộc sống yêu thương. Chúa không
đến để nhìn một cái cây được quét trơn bóng bởi những vẻ đẹp thế gian, Ngài đến để tìm hoa quả
chính là lối sống tốt đẹp với Thiên Chúa và tha nhân. Mùa chay, mùa hối thúc chúng ta khiêm
nhường thú nhận tội lỗi đã phạm mà ăn năn trở về với Chúa. Trở về để hưởng sự tha thứ. Con
tim trở về là con tim đã nhổ bỏ những cỏ dại để được chăm sóc và sinh hoa kết trái. Lạy Chúa,
Chúa hằng kiên nhẫn chờ đợi chúng con trở về. Xin cho chúng con đang trên đường tội lỗi biết
dừng lại cảm nghiệm tình yêu Chúa, nghe được tiếng thổn thức của Chúa gọi mà trở về nơi suối
nguồn yêu thương của Chúa. Amen.
Qua biến cố biến hình, Chúa muốn củng cố niềm tin của các môn đệ và qua các môn đệ,
Người muốn cho mọi người chúng ta thấy trước phần vinh quang của Người sau phục sinh.
Cũng có nghĩa là Chúa muốn cho chúng ta biết rằng cuộc thương khó và khổ nạn mà Người
sắp chịu không phải là tận cùng, là hết, nhưng chính là bước đường dẫn tới vinh quang. Như
vậy, Chúa biến hình để cho mọi người chúng ta thấy thân xác vinh hiển của Chúa. Chính
Chúa Giê-su cũng đã tuyên bố rõ rệt điều đó trong Tin mừng thánh Mát-thêu: “Bấy giờ kẻ
lành sẽ sáng chói như mặt trời trong Nước của Cha mình.” (Mt. 13, 43) Vì thế, sự kiện biến
hình của Chúa Giê-su cho chúng ta hiểu được ý nghĩa và giá trị đích thực của người Ki-tô
hữu là phải qua những sự hy sinh và đau khổ vì đức tin, vì Tin mừng và vì Chúa, thì mới
được thông phần vinh quang của Chúa. Chúng ta phải hướng cuộc sống trần gian về sự vinh
quang Nước Trời. Vì vậy, sống sự biến hình là một đòi hỏi hằng ngày của người Kitô hữu.
Nói cách khác, cuộc sống Kitô hữu của chúng ta phải không ngừng biến đổi để được trở nên
đồng hình, đồng dạng với Chúa Kitô hơn. Đây cũng là điều thánh Phaolô dạy chúng ta trong
bài đọc 2, ngài nói: “Phần chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong
đợi Ðấng Cứu Chuộc là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người sẽ biến đổi thân xác hèn hạ
của chúng ta nên giống như thân xác hiển vinh của Người.” Thánh Phao-lô cũng rất đau
buồn khi nhận thấy có những Ki-tô hữu sống thù nghịch với thập giá. Vì thế thánh Phao-lô
khuyên chúng ta hãy góp phần vào sự biến thân xác của mình bằng cách khử trừ tội lỗi, sửa
đổi lại những thói hư tật xấu, thay đổi cuộc sống lầm lạc, biết hãm mình, hy sinh và chịu
thiệt thòi, đau khổ để trong ngày sau hết chúng ta sẽ được mặc lấy ánh vinh quang phục sinh
của Chúa Ki-tô. Sự kiện Chúa biến hình còn dạy chúng ta phải lắng nghe và vâng lời Chúa.
Thiên Chúa muốn mạc khải, nói hay dạy điều gì cho chúng ta thì Người nói và dạy qua Chúa
Giê-su. Lời Chúa là sự sống và là ánh sáng soi đường dẫn chúng ta đi. Nếu chúng ta muốn
có ơn Chúa, muốn sống trong an bình, vui mừng và hạnh phúc đời này, và hưởng vinh quang
đời sau thì chúng ta phải lắng nghe và sống lời Chúa dạy. Xin Chúa giúp chúng ta sống thời
điểm mùa chay này can đảm sống lời Chúa dạy, để có sức mạnh chiến đấu và chiến thắng
tội lỗi và thói hư nết xấu, biết canh tân và biến đổi đời sống, trở nên tốt đẹp, thánh thiện hơn,
cũng như để sống trong bình an, vui mừng, hạnh phúc đời này và hưởng vinh quang của
Chúa đời sau.
Có nhiều cách để nhận biết sự thật về một người. Chúng ta có thể bị hấp dẫn bởi những
lời giảng hùng hồn. Chúng ta cũng có thể bị đánh lừa bởi thái độ khôn khéo giả tạo. Đức
Giêsu cho chúng ta một tiêu chuẩn để nhận ra con người thật: “Xem quả thì biết cây” (c.
44). Quả ở đây là đời sống thực sự của người đó, là những việc họ làm. Nếu nhìn kỹ
công việc của một người, chúng ta có cơ may biết họ là ai. Đức Giêsu nói lên một luật
tự nhiên của cây cỏ. Cây tốt sẽ sinh trái tốt, cây bị sâu sẽ sinh ra trái không ngon. Người
công chính được nhận biết qua đời sống tốt lành của họ, qua những thử thách họ đã vượt
qua, qua những hy sinh họ dâng hiến. Người bất chính sẽ lộ ra qua đời sống xấu xa. Đời
sống và hành động của một người phản ánh con người thật của họ. Bụi gai không sinh
được trái vả, bụi rậm không cho được trái nho. Bụi gai và bụi rậm chẳng thể nào sinh
hoa trái tốt đẹp. Đời sống là tiêu chuẩn để nhận ra người môn đệ thật của Đức Giêsu.
Không phải chỉ là tuyên xưng đức tin vào Thầy bằng cách kêu lên: “Lạy Chúa! lạy
Chúa!” Vấn đề là làm điều Thầy dạy (c. 46). Đức Giêsu đặt câu hỏi tại sao đầy ngạc
nhiên với các môn đệ: Tại sao tin vào Thầy mà lại không sống điều Thầy truyền dạy?
Kitô hữu chân chính là người đến với Chúa Giêsu, lắng nghe những lời của Ngài và thi
hành những lời ấy (c. 47). Nghe thôi thì chưa đủ. Lời của Chúa Giêsu phải thấm nhuần
vào đời sống của ta, chi phối mọi hành động, quyết định và lựa chọn. Đức Giêsu kết thúc
Bài Giảng của mình bằng dụ ngôn về hai người xây nhà. Nhiều người đã nghe Bài Giảng
này, đã cảm thấy hay, nhưng có bao nhiêu người sẽ thực hành những giáo huấn trong
đó? Người thực hành Lời Chúa được ví như người xây nhà có nền vững chắc. Còn người
không thực hành thì giống như người làm nhà không nền. Bề ngoài có vẻ hai căn nhà
không khác nhau. Chỉ khi nước lụt dâng lên, và dòng nước ùa vào nhà, mới thấy sự khác
biệt. Một căn đứng vững vì có nền tử tế, căn kia bị sụp đổ tan tành. Chúng ta thích xây
nhà cao, nhưng lại ít để ý tới nền móng. Chúng ta đã được nghe quá nhiều đoạn Lời
Chúa, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc suy niệm, cầu nguyện. Lời Chúa chưa thực sự bám
rễ trong hành động và cuộc sống, vì điều đó đòi một sự trả giá mà chúng ta muốn quay
lưng. Chính vì thế căn nhà tâm linh của chúng ta vẫn không vững. Xin Chúa cho chúng
ta can đảm để làm lại nền cho căn nhà đời ta.
Khi đọc lời nhắn nhủ trên đây của Đức Giêsu, chúng ta thường thấy đó là chuyện không thể làm nổi, hay nếu làm được, ắt sẽ sinh ra những hậu quả tồi tệ. Chắc chắn Đức Giêsu không dạy ta bao che cho kẻ ác, hay đòi hủy bỏ luật hình sự để phạt các phạm nhân. Ngài không cổ vũ việc ăn xin khi nói: “Ai xin, con hãy cho.” Ngài cũng không biến chúng ta thành người bạc nhược. Bài Tin Mừng hôm nay là một viên ngọc, vì nó cho thấy nét đặc trưng của người Kitô hữu. Nó vén mở một lý tưởng mà ta phải vươn tới. Chúng ta cần vượt lên trên nghĩa đen của mặt chữ để cảm được tinh thần mà Chúa muốn ta sống. Không sống lời Ngài, ta vẫn là kẻ đứng ngoài Kitô giáo. “Hãy yêu kẻ thù”: câu này được nhắc lại hai lần. Theo bài Tin Mừng này thì kẻ thù của tôi là ai? Đó là kẻ ghét tôi, kẻ nguyền rủa tôi và vu khống. Đó là kẻ tát vào mặt tôi và đoạt áo ngoài của tôi. Như thế kẻ thù tôi chẳng đâu xa, ngày ngày tôi vẫn gặp. Họ là những người hay làm phiền và lợi dụng tôi, là những kẻ xúc phạm đến danh dự và quyền lợi của tôi. Họ là những người tự nhiên tôi không ưa, hay không ưa tôi. Đức Giêsu không đòi tôi yêu kẻ thù như yêu người thân: về mặt tình cảm, chuyện đó khó thực hiện. Nhưng Ngài mời tôi yêu bằng hành động. Yêu là làm ơn, là chúc lành, là cho vay. Yêu là cầu nguyện điều lành cho kẻ thù (cc. 27-28). Khi làm điều tốt cho kẻ thù, tôi được giải phóng khỏi cái tôi ăn miếng trả miếng, và nhờ đó chính kẻ thù tôi cũng có thể được giải phóng khỏi cái tôi ích kỷ của họ. Khi yêu kẻ thù bằng những hành động tử tế, tôi không còn coi họ là kẻ thù của tôi nữa. Dần dần, tình cảm của tôi đối với họ cũng biến đổi. Cần can đảm biết bao khi chào hỏi, bắt tay một người làm tôi vô cùng đau khổ. Đó chẳng phải là một hành động giả hình, nhưng là một nỗ lực thắng vượt tình cảm tự nhiên. Đó chẳng phải là một hành vi của kẻ yếu, nhưng là dấu hiệu của tính quả cảm anh hùng. Kitô hữu được mời gọi vượt lên trên cái tự nhiên. Suy nghĩ tự nhiên, tình cảm tự nhiên, phản ứng tự nhiên… Phải ra khỏi cái tự nhiên, thường tình, mới vào được thế giới siêu nhiên, thế giới của những người con, sống nhân hậu như Cha. Sống nhân hậu như Cha là trở nên hoàn thiện. Thế giới văn minh không chỉ nhờ tiến bộ của khoa học, nhưng chủ yếu nhờ những chiến thắng trên lòng ích kỷ của từng người cũng như của mọi tập thể lớn nhỏ. Trái đất chỉ tồn tại nhờ tha thứ yêu thương. Kitô giáo chỉ sống còn nhờ yêu thương tha thứ.
Đức Giêsu được mọi người biết đến là một người nghèo. Nghèo từ khi sinh ra đến lúc từ giã thế gian để về với Chúa Cha. Chính Đức Giêsu đã ví cuộc đời của mình như: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu”. Lúc sinh thời, nhất là trong thời gian loan báo Tin Mừng, từ lối sống đến hành động, Ngài luôn quan tâm đến tận cùng kiếp sống con người, nhất là những người khốn khó, bệnh hoạn, tật nguyền. Nên Đức Giêsu không ngần ngại để sống với những người nghèo hèn, cảm thông cho những người tội lỗi và ăn uống với họ, đồng thời, luôn coi họ như những người bạn, sẵn sàng đứng về phía họ để bênh đỡ, chở che. Tinh thần và lối sống đó hôm nay được Đức Giêsu chính thức chúc phúc, và qua đó như một lời mời gọi mọi người đi theo con đường đó để được hạnh phúc: “Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của các ngươi”. Phải chăng Đức Giêsu là người cổ hủ, lỗi thời khi cổ súy cho cái nghèo? Hơn nữa, Ngài lại còn mời gọi những ai muốn đi theo và làm môn đệ cũng phải sống một cuộc sống bần cùng, cơ cực? Thưa! Hẳn là không! Qua mối phúc này, Đức Giêsu muốn cho con người được hạnh phúc hoàn toàn, khi không bị chi phối bởi lòng ham muốn tiền bạc, vì nếu mê mẩn với chúng thì sẽ trở thành nô lệ cho tiền bạc. Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy hướng tâm hồn lên Đức Giêsu và quy chiếu cuộc đời của ta với Ngài, để vui mừng khi được sống tinh thần nghèo khó như Ngài. Một cách cụ thể, đó là sống hết mình và hiến thân trọn vẹn cho tha nhân, nhất là những người bần cùng trong xã hội. Cần phải xác định thật rõ rằng: gia tài đích thực của chúng ta là Thiên Chúa. Giá trị lớn lao nhất là sống cho Thiên Chúa qua cung cách phục vụ tha nhân. Cùng đích của con người không phải là của cải chóng qua đời này mà là cuộc sống mai hậu. Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết noi gương Chúa để mặc lấy tâm tình nghèo khó như Ngài, ngõ hầu chúng con được tự do để dấn thân phục vụ người nghèo cách vô vị lợi như Chúa khi xưa. Amen.
Hành trình Đức tin của người tín hữu chính là cuộc tìm kiếm và gặp gỡ với Chúa. Đây
là một hành trình lâu dài, liên lỉ và có nhiều chướng ngại. Để theo Chúa và trung tín
với Ngài, chúng ta luôn phải can đảm vượt qua những chướng ngại đó. Như những vận
động viên chuyên tâm khổ luyện để đạt được vòng nguyệt quế dành cho người chiến
thắng, người Kitô hữu phải luôn chiến đấu trong trận chiến thiêng liêng để thuộc trọn
về Chúa. Ông Gioan dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả những cố gắng hoàn thiện
bản thân: lấp đầy lũng sâu, bạt thấp núi đồi, nắn thẳng quanh co uẩn khúc. Kinh
nghiệm cho thấy, người ta có thể dễ dàng chiến thắng trong trận chiến với kẻ thù,
nhưng lại ngã gục trước cám dỗ của cái tôi ích kỷ và đầy tham vọng. Cuộc chiến đấu
để thanh luyện chính mình là một cuộc chiến đấu dai dẳng, đòi hỏi nhiều cố gắng hy
sinh. Mùa Vọng vừa mời gọi chúng ta nhìn lại mình, vừa nhắc chúng ta hãy nhận ra sự
hiện diện của Thiên Chúa. Những cố gắng nỗ lực để hoàn thiện bản thân và thực thi
bác ái sẽ giúp chúng ta bạt núi kiêu ngạo, lấp thung lũng hèn nhát. Cuộc sống hôm nay
có nhiều cám dỗ, quá nhiều khuynh hướng khác nhau, lôi kéo chúng ta đi lạc đường.
Những bon chen bận rộn của cuộc đời dễ làm chúng ta đắp những quả đồi, hoặc khoét
sâu khoảng cách đối với anh chị em. Khi can đảm dẹp bỏ mọi chướng ngại trong tâm
hồn, chúng ta sẽ được “nhìn” thấy Chúa và vinh quang của Ngài. Lúc đó, Chúa sẽ là
tất cả của đời sống chúng ta, và chúng ta sẽ chỉ nhìn lên Ngài như định hướng tuyệt
hảo duy nhất của cuộc đời. Lời mời gọi bạt núi san đồi vẫn vang lên hằng năm. Tuy
vậy, nơi đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn, vẫn còn đó những khuyết điểm lỗi lầm.
Trong mối tương quan hằng ngày, người ta vẫn tiếp tục xây những bức tường chia rẽ,
vẫn đào những thung lũng hận thù và xây những núi đồi của kiêu ngạo. Lời Chúa
khích lệ chúng ta không nên thất vọng, vì chúng ta có nguồn trợ lực thiêng liêng đến từ
Đấng Tối cao. Chúa Giêsu đã từ bỏ mọi sự để hủy mình ra không, trở nên một trẻ thơ
nơi hang đá khó nghèo. Người đã trở nên nghèo để chúng ta được giàu có; Người đã
trở nên yếu ớt để chúng ta được mạnh mẽ; Người đã đón nhận thập giá để chúng ta
được vinh quang. Vì thế, ơn gọi của chúng ta là cố gắng “sống cho tinh tuyền, không
làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm, nhờ đó chúng ta mang
lại hoa trái dồi dào là sống một đời công chính”, như thánh Phaolô nhắn nhủ giáo dân
Philiphê (Bài đọc II).
Quan đoạn Tin Mừng, chúng ta ghi nhận một cuộc hỏi cung kỳ lạ trong đó bị cáo lại đặt vấn đề với quan toà và hướng dẫn cả cuộc tranh luận về tước hiệu Vua dân Do Thái. Thực vậy, Chúa Giêsu biết rằng chính dân Do Thái đã tố cáo Người xưng mình là vua. Nếu không có lời tố cáo này, Philatô chẳng bao giờ có ý bắt và kết án Người. Và bây giờ, nếu ông có quan tâm thì cũng chỉ vì khía cạnh chính trị của lời tố cáo này mà thôi, bởi vì ông đại diện cho hoàng đế Rôma, cai trị đất nước Do Thái. Nhưng Chúa Giêsu nói tiếp với quan tổng trấn rằng: Nước Người không thuộc về thế gian này. Đối với người Do Thái cũng như đối với Philatô, danh từ vua chỉ có một ý nghĩa duy nhất là một lãnh tụ chính trị, có vương quốc, có thần dân với bộ máy cai trị và quân đội, để bảo vệ chủ quyền và an ninh cho đất nước. Nếu Chúa là vua theo nghĩa này thì hẳn thần dân của Người đã không để cho Người rơi vào tay họ. Chính họ cũng biết điều đó. Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Người đã từ chối ý định của họ là muốn tôn Người làm vua. Chúa là Vua, nhưng Người không cạnh tranh với hoàng đế Rôma vì nước Người không thuộc về thế gian này. Vương quốc của Người được thiết lập ngay trong lễ Vượt qua, khi Người phó mình chịu chết để vâng phục thánh ý Chúa Cha: Ngày nào Ta bị treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi sự đến cùng Ta. Đức Kitô thi hành vương quyền của mình bằng cách kéo loài người khỏi sự chết để dẫn đưa họ vào nhà Chúa Cha. Điều nghịch lý là ở chỗ ngay trong cuộc khổ nạn, Đức Kitô mới xưng mình là vua và ngay khi bị treo trên thập giá Người mới chứng tỏ mình thật sự là vua. Trong suốt cuộc xét xử, Philatô đã tỏ ra là một quan toà nghiêng ngửa và yếu đuối. Ông ta biết Chúa Giêsu không có tội gì và muốn tìm cách tha Người, nhưng ông lại sợ áp lực của người Do Thái: Nếu quan tha nó thì quan không phải là bạn hữu của hoàng đế. Thế thì nguy rồi, chức vụ của mình, gia sản của mình và ngay cả mạng sống của mình cũng có thể tiêu ma. Thôi mặc kệ cho sự thật, mặc kệ cho bị cáo phải tử hình. Ta lo cho ta trước đã. Đó là một con người không trung thực và hèn nhát. Dù biết Chúa Giêsu không có tội muốn làm loạn, muốn xưng vương, nhưng Philatô vẫn cứ treo bản án: Giêsu Nadarét, vua dân Do Thái. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có dám đứng về phía của chân lý của sự thật hay không? Chúng ta có dám chấp nhận những hy sinh, những thiệt thòi để cho Nước Chúa được trị đến hay không?
Đối với một số bạn trẻ, yêu chẳng có gì khó. Yêu là gặp nhau, quen nhau, nhớ nhau.
Yêu là hẹn hò, viết thư, tặng quà sinh nhật. Nhưng dần dần quan niệm về tình yêu trở
nên sâu xa hơn. Các bạn nhận ra yêu là trao hiến bản thân, là hy sinh chính mình để
sống cho người khác. Tình yêu đích thực không dễ như nhiều người lầm tưởng. Vào
ngày tận thế, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu. Một vị kinh sư tốt lành hỏi Đức Giêsu
về điều răn đứng đầu trong số 613 khoản luật. Ngài trích Ngũ Thư để tóm lại trong hai
điều răn chính: yêu Thiên Chúa hết lòng và yêu tha nhân như chính mình. Tất cả lề
luật cô đọng trong một thái độ là yêu mến.Giữ luật mà quên yêu mến có thể dẫn đến óc
nệ luật. Giữ luật phải trở nên phương thế để bày tỏ tình yêu. “Yêu mến là chu toàn lề
luật” (Rm 13,10). Thánh Âu-tinh phàn nàn là mình đã yêu Chúa quá muộn. Còn chúng
ta lại thấy mình yêu Chúa quá ít và hời hợt. Khi nghe Đức Giêsu nhắc lại lời kinh của
người Do Thái: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, với trọn cả
trái tim ngươi, với trọn cả linh hồn ngươi, với trọn cả trí khôn ngươi, với trọn cả sức
lực ngươi...”, ta mới thấy đòi hỏi quyết liệt của Thiên Chúa. Ngài muốn ta yêu Ngài
bằng tất cả con người mình. Cụm từ “với trọn cả” được lặp lại nhiều lần như nhắc ta
chẳng nên giữ điều gì lại. Sống điều răn thứ nhất là đặt Chúa lên trên hết, là dành ưu
tiên một cho Chúa giữa những ưu tiên. Coi Chúa là tất cả, mãn nguyện vì có Chúa.
Dành cho Chúa tất cả, để Chúa chiếm trọn mình. Điều răn thứ hai bắt nguồn từ điều
răn thứ nhất: yêu người thân cận như chính mình. Người thân cận là mọi người chẳng
trừ ai. Chỉ trong Chúa tôi mới có thể yêu thương đến vô cùng. Trong Chúa, tôi nhận ra
tha nhân là anh em, con một Cha, là hình ảnh của Đức Kitô đang cần tôi giúp đỡ.
Trong Chúa, tôi cảm nhận phẩm giá đích thực của một người, dù đó là một thai nhi,
một phạm nhân hay người mất trí. Tình yêu thực sự với Thiên Chúa đưa tôi về với anh
em. Tình yêu anh em đòi tôi gặp gỡ Thiên Chúa để múc lấy nơi Ngài sức mạnh hầu
tiếp tục hiến trao. Đó là nhịp đập bình thường của trái tim người Kitô hữu, cứ đong
đưa giữa hai tình yêu. Hay đúng hơn chỉ có một tình yêu: tôi yêu tha nhân trong Chúa
và tôi yêu Chúa nơi tha nhân. Đức Giêsu đã sống đến cùng hai điều răn Ngài dạy. Ngài
sống để yêu và chết vì yêu. Tình yêu của Ngài là lễ toàn thiêu và hy tế.
Mỗi tối tôi lại xét mình về tình yêu để thấy mình còn yêu quá ít.
Lưỡi và tai là hai cơ quan truyền thông của con người. Kẻ “câm và điếc” hoàn toàn
bị tước đoạt hai phương tiện cần thiết này. Lưỡi họ như bị một sợi dây vô hình trói
buộc, tai họ dường như có một cánh cửa khóa chặt. Họ không hiểu được ai và cũng
chẳng ai hiểu được họ. Có thể nói, họ bị tách khỏi thế giới bên ngoài. Hôm nay,
Đức Giêsu chữa cho một người câm điếc. Người phán: “Ép-pha-ta” nghĩa là “Hãy
mở ra ” lập tức tai anh mở ra, lưỡi anh như hết bị trói buộc (x. Mc.6,34-35). Chẳng
ai muốn mình bị điếc, nhưng trong thực tế không thiếu người mắc bệnh này. Chúng
ta bị điếc khi để mình mất khả năng lắng nghe kẻ khác. Chúng ta bị điếc khi chúng
ta nghe người khác nhưng lại cố hiểu theo ý mình. Chúng ta bị điếc khi lắng nghe
mà không nhận thức được đúng sai, hay dở. Vậy điều quan trọng không nằm ở nơi
người nói, mà ở chỗ người nghe suy nghĩ và quyết định ra sao. Nắm được tâm lý
của con người nên hãng bảo hiểm Prudential mới chọn khẩu hiệu: “Luôn luôn lắng
nghe, luôn luôn thấu hiểu”. Vì thế, chỉ nghe bằng tai thôi không đủ, mà phải lắng
nghe với cả trái tim. Chỉ có trái tim yêu thương, chân thành và quảng đại mới có
thể hiểu đầy đủ, hiểu chính xác những thông điệp mà người nói muốn truyền đạt.
Hơn nữa, không phải thông tin nào cũng nên nghe. Cần phải chọn lựa những thông
tin bổ ích hữu dụng; không gây phương hại, vẫn đục cho tâm hồn. Cha Mark Link
có viết: “Chúng ta không thể luôn tin vào những gì nghe bằng đôi tai, nhưng luôn
có thể tin vào những gì thấy bằng con tim của mình”.